Contents. 1 Cấu tạo công tắc 3 cực; 2 Công tắc 2 cực, 3 cực có gì giống và khác nhau; 3 Sơ đồ mạch điện cầu thang dễ hiểu nhất. 3.1 Sơ đồ nguyên lý mạch điện cầu thang; 3.2 Sơ đồ đi dây mạch điện cầu thang; 4 Cách lắp mạch điện cầu thang tại nhà; 5 Ứng dụng thêm của mạch điện cầu thang
Tắc động mạch chủ bụng dưới thận và động mạch chậu mạn tính do xơ vữa là bệnh thường gặp ở bệnh nhân lớn tuổi. Do xơ vữa động mạch là một quá trình toàn thân, nên bệnh có thể đi kèm tắc các động mạch đầu xa của chi dưới. Vì vậy biểu hiện lâm sàng
Bệnh tắc nghẽn mạn tính động mạch chi dưới còn gọi là thiếu máu chân mạn tính. Bệnh gây mất chức năng đi đứng của bệnh nhân. Ngoài tổn thương ở chân, bệnh còn ảnh hưởng đến toàn thân, gây ra biến chứng hoại tử lan rộng ở bàn chân, tỉ lệ cắt cụt chi và tử vong vẫn còn cao. Ai dễ mắc bệnh?
- Cấp điện cho mạch, nhấn nút M, công tắc tơ K có điện, động cơ được nối nguồn 3 pha và làm việc. - Muốn dừng, nhấn nút D, công tắc tơ K mất điện, động cơ được cắt ra khỏi nguồn 3 pha.
1.4. Giải phẫu hệ động mạch chi dưới 6 1.5. Sinh lý dòng chảy và những rối loạn huyết động trong hẹp tắc động mạch chi dưới 9 1.5.1. Sinh lý dòng chảy 9 1.5.2. Dòng chảy lớp 9 1.5.3. Dòng chảy rối 10 1.6.
Tắc động mạch nhưng tưởng đau khớp. Ngày 30/3, tin tử Bệnh viện E cho biết, bệnh nhân bị tắc động mạch chi là ông H.M.Y (54 tuổi, ở huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái). Ông chia sẻ, trước đó, ông đã từng bị vài cơn đau tức chân trước đây, nhưng một phần nghĩ bệnh
Tắc động mạch: Do các mảng xơ vữa gây hẹp động mạch, cản trở máu lưu thông khiến máu không đến được các chi gây đau, tê bì dẫn đến nhiễm trùng chi. Bệnh Buerger: các mạch máu ở bàn chân, bàn tay bị viêm làm hẹp và tắc nghẽn mạch máu, làm chậm quá trình lưu thông
Túc là động cơ không hoạt động. Từ đó ta có thể hiểu rằng, để động cơ dừng lại thì điện áp ở 2 cực phải bằng nhau. Mạch cầu H trong IC SN754410. Đây là loại IC tích hợp mạch cầu H và điều khiển được 2 động cơ điện chạy theo 2 hướng độc lập khác nhau.
Vay Nhanh Fast Money. Bệnh động mạch ngoại biên PAD là tình trạng xơ vữa động mạch ở các chi hầu như luôn là chi dưới gây thiếu máu cục bộ. PAD nhẹ có thể không có triệu chứng hoặc gây cơn đau cách hồi; PAD nặng có thể gây ra đau khi nghỉ đi kèm rối loạn dinh dưỡng da, rụng lông, tím, loét thiếu máu và hoại tử. Chẩn đoán dựa vào tiền sử, khám lâm sàng, và đo chỉ số của mắt cá chân-cánh tay. Điều trị PAD nhẹ bao gồm việc kiểm soát các yếu tố nguy cơ, tập thể dục, thuốc chống kết tập tiểu cầu và cilostazol hoặc có thể là pentoxifylline nếu cần. PAD nặng thường đòi hỏi phải can thiệp chụp mạch hoặc phẫu thuật bắc cầu và có thể cắt cụt. Tiên lượng thường là tốt với điều trị, mặc dù tỷ lệ tử vong tương đối cao bởi vì thường phối hợp với bệnh động mạch vành hoặc bệnh mạch não. Tỷ lệ mắc bệnh động mạch ngoại biên khoảng 12% ở Mỹ; nam giới bị ảnh hưởng nhiều hơn phụ nữ. Hút thuốc lá kể cả hút thuốc lá thụ động hoặc các hình thức sử dụng thuốc lá khácTiền sử gia đình bị xơ vữa động mạch Nồng độ homocysteineTuổi càng caoNam giớiBéo phì Các triệu chứng và dấu hiệu của bệnh động mạch ngoại biên Đau chân cách hồi là biểu hiện điển hình của bệnh động mạch ngoại biên. Đau chân cách hồi là cảm giác đau, nhức, chuột rút, cảm giác khó chịu hoặc mệt mỏi ở chân xảy ra khi đi bộ và sẽ thuyên giảm khi nghỉ ngơi. Đau cách hồi thường xảy ra ở bắp chân nhưng có thể xảy ra ở bàn chân, bắp đùi, hông, mông, hoặc, hiếm khi, cánh tay. Đau cách hồi là sự biểu hiện của thiếu máu có thể hồi phục liên quan gắng sức, tương tự như cơn đau thắt ngực. Khi PAD tiến triển, quãng đường có thể đi mà không có triệu chứng có thể giảm, và bệnh nhân bị PAD nặng có thể bị đau trong suốt thời kỳ nghỉ ngơi, phản ánh tình trạng thiếu máu không hồi phục. Đau khi nghỉ ngơi thường là tồi tệ hơn ở vùng xa, trầm trọng thêm khi chân nâng cao thường gây đau vào ban đêm, và giảm đi khi chân ở thấp dưới mức tim. Đau có thể bỏng rát, siết chặt, mặc dù triệu chứng này không đặc hiệu. Khoảng 20% bệnh nhân mắc bệnh động mạch ngoại vi không có triệu chứng, đôi khi vì họ không hoạt động đủ để gây thiếu máu cục bộ. Một số bệnh nhân có triệu chứng không điển hình ví dụ đau hông hay đau khớp.PAD nhẹ thường không gây ra dấu hiệu. PAD từ trung bình đến nặng thường gây giảm hoặc mất các mạch ngoại biên khoeo, chày sau, mu chân; Siêu âm Doppler thường có thể phát hiện dòng máu khi mạch không thể sờ dưới mức tim, bàn chân có thể xuất hiện màu đỏ sẫm. Ở một số bệnh nhân, nâng bàn chân làm mất màu sắc và làm trầm trọng thêm cơn đau thiếu máu cục bộ; khi chân được hạ xuống, thời gian làm đầy tĩnh mạch kéo dài > 15 giây. Phù nề thường không có trừ khi bệnh nhân giữ chân bất động và giữ nguyên ở vị trí giảm đau. Bệnh nhân có PAD mạn tính có thể có làn da mỏng, nhợt nhạt với lông ít hoặc không có. Chân phía xa và bàn chân lạnh. Các chân bị ảnh hưởng có thể có mồ hôi nhiều và tím, có thể là do sự kích thích dây thần kinh giao cảm. Khi thiếu máu nặng, loét có thể xuất hiện thường là ở ngón chân hoặc gót chân, thỉnh thoảng ở chân hoặc bàn chân, đặc biệt là sau chấn thương. Các vết loét có xu hướng được bao quanh bởi các mô đen, hoại tử hoại tử khô. Họ thường rất đau, nhưng những người bị bệnh thần kinh ngoại vi do tiểu đường hoặc nghiện rượu có thể không cảm thấy đau nữa. Nhiễm trùng của vết loét thiếu máu hoại tử ướt xảy ra dễ dàng, gây ra viêm tế bào độ tắc nghẽn động mạch ảnh hưởng đến vị trí của các triệu chứng. Bệnh động mạch chủ chậu có thể gây đau cách hồi ở đùi, mông hoặc cẳng chân; đau hông; và ở nam giới có rối loạn cương dương hội chứng Leriche. Bệnh động mạch ở đùi khoeo đau cách hồi xảy ra ở bắp chân; mạch bên dưới động mạch đùi yếu hoặc không có. Bệnh động mạch ở các vị trí xa hơn, mạch đùi khoeo vẫn có thể có, nhưng các mạch chân tắc nghẽn động mạch đôi khi ảnh hưởng đến các cánh tay, đặc biệt là động mạch ngoại động trái gần, gây ra sự mệt mỏi của tay với tập thể dục và đôi khi thuyên tắc vào tay. Chỉ số cổ chân - cánh taySiêu âmChụp mạch trước khi phẫu thuật Chẩn đoán được xác nhận bằng xét nghiệm không xâm lấn. Thứ nhất, đo huyết áp tâm thu ở cánh tay chân hai bên; vì mạch mắt cá chân khó sờ thấy, một đầu dò Doppler có thể được đặt trên mạch mu chân hoặc động mạch chày sau. Siêu âm Doppler thường được sử dụng, bởi vì chênh áp và dạng sóng mạch có thể giúp phân biệt vị trí bị bệnh động mạch ngoại biên từ động mạch đùi khoeo và đoạn động mạch dưới gối. Chỉ số cổ chân-cánh tay là tỷ số giữa huyết áp tâm thu của cổ chân và cánh tay. Giá trị ABI thấp ≤ 0,90 xác định là bị bệnh động mạch ngoại vi, được phân loại tiếp nhẹ 0,71 đến 0,90, vừa 0,41 đến 0,70, hoặc nặng ≤ 0,40. Nếu chỉ số này là bình thường 0,91 đến 1,30 nhưng nghi ngờ bệnh động mạch ngoại vi, chỉ số này được đo sau khi gắng sức Nghiệm pháp gắng sức Trong quy trình nghiệm pháp gắng sức, người ta sẽ chủ động làm tăng nhu cầu oxy của cơ tim, từ đó giúp bộc lộ các vùng cơ tim thiếu máu có nguy cơ bị nhồi máu. Trong quá trình đó, tim được theo... đọc thêm . Giá trị ABI cao > 1,30 có thể nghi ngờ mạch xơ cứng như trong bệnh xơ cứng động mạch Mönckeberg Xơ cứng động mạch Mönckeberg Xơ cứng động mạch không do xơ vữa là xơ hóa liên quan đến tuổi ở động mạch chủ và các nhánh chính của nó. Xem thêm Xơ vữa động mạch. Xơ cứng động mạch là một thuật ngữ chung cho một số rối... đọc thêm với vôi hóa vách thành động mạch. Nếu chỉ số là > 1,30 nhưng vẫn nghi ngờ bị bệnh động mạch ngoại vi,các xét nghiệm bổ sung ví dụ siêu âm Doppler, đo huyết áp ở đầu ngón chân cái được thực hiện để kiểm tra các dấu hiệu tắc nghẽn, hẹp động mạch. Tổn thương thiếu máu cục bộ khó lành khi huyết áp tâm thu < 55 mm Hg ở bệnh nhân không bị đái tháo đường hoặc < 70 mm Hg ở bệnh nhân tiểu đường; mỏm cụt dưới gối thường lành nếu huyết áp ≥ 70 mm Hg. Thiếu máu động mạch ngoại biên cũng có thể được đánh giá bằng cách đo oxy qua da TcO2. Mức TcO2 < 40 mm Hg 5,32 kPa dự báo tình trạng lành tổn thương kém và giá trị < 20 mm Hg 2,66 kPa phù hợp với thiếu máu cục bộ ở chi nguy mạch cung cấp chi tiết về vị trí và mức độ co thắt động mạch hoặc tắc nghẽn động mạch; nó là một điều kiện tiên quyết để điều trị phẫu thuật hoặc can thiệp mạch qua da PTA. Nó không thể thay thế cho các xét nghiệm không xâm lấn bởi vì nó không cung cấp thông tin về ý nghĩa bất thường chức năng. Chụp cộng hưởng từ và CT mạch máu là các xét nghiệm không xâm lấn có thể thay thế chụp mạch qua da. Thay đổi yếu tố nguy cơTập thể dụcThuốc kháng tiểu cầuDùng pentoxifylline hoặc cilostazol để làm giảm đau cách hồiChất ức chế men chuyển angiotensinTạo hình mạch qua da hoặc phẫu thuật khi bệnh ở mức độ nghiêm trọng Tất cả bệnh nhân đều cần phải điều chỉnh yếu tố nguy cơ tích cực để giảm các triệu chứng của bệnh động mạch ngoại vi và dự phòng bệnh tim mạch, bao gồm ngừng hút thuốc lá Bỏ hút thuốc Hầu hết người hút thuốc đều muốn bỏ thuốc. Những biện pháp can thiệp hiệu quả bao gồm tư vấn cai thuốc lá và điều trị bằng varenicline, bupropion, hoặc chế phẩm thay thế nicotine. Khoảng 70%... đọc thêm Cần thiết; kiểm soát bệnh tiểu đường, rối loạn lipid máu, và tăng huyết áp; liệu pháp tập thể dục; và thay đổi chế độ ăn uống. Ngoài statin, thuốc ức chế men chuyển và aspirin để giảm nguy cơ mắc bệnh CVD xem Điều trị xơ vữa động mạch Chế độ ăn Xơ vữa động mạch được đặc trưng bởi các mảng bám nội mạc mảng xơ vữa xâm lấn vào lòng các động mạch cỡ trung bình và lớn. Các mảng chứa lipid, tế bào viêm, tế bào cơ trơn và mô liên kết. Các... đọc thêm , một thử nghiệm ngẫu nhiên, có đối chứng giả dược gần đây cho thấy rằng Rivaroxaban liều thấp khi thêm vào aspirin đã làm giảm các biến cố CVD và các tác dụng phụ chi, bao gồm cắt cụt chi 1 Tài liệu tham khảo về điều trị Bệnh động mạch ngoại biên PAD là tình trạng xơ vữa động mạch ở các chi hầu như luôn là chi dưới gây thiếu máu cục bộ. PAD nhẹ có thể không có triệu chứng hoặc gây cơn đau cách hồi; PAD nặng... đọc thêm . Ở những bệnh nhân bị bệnh động mạch ngoại biên nặng cần tái thông mạch chi dưới, một nghiên cứu khác đã chứng minh rằng điều trị sau phẫu thuật bằng rivaroxaban 2,5 mg uống hai lần/ngày cùng với aspirin đã làm giảm đáng kể tỷ lệ kết cục tổng hợp của thiếu máu cục bộ chi cấp, cắt cụt chi nhiều do nguyên nhân mạch máu, cơ tim. nhồi máu, đột quỵ do thiếu máu não cục bộ, hoặc tử vong do nguyên nhân tim mạch so với chỉ dùng aspirin 2 Tài liệu tham khảo về điều trị Bệnh động mạch ngoại biên PAD là tình trạng xơ vữa động mạch ở các chi hầu như luôn là chi dưới gây thiếu máu cục bộ. PAD nhẹ có thể không có triệu chứng hoặc gây cơn đau cách hồi; PAD nặng... đọc thêm Thuốc chẹn beta an toàn trừ khi Bệnh động mạch ngoại biên rất trầm trọng 3 Tài liệu tham khảo về điều trị Bệnh động mạch ngoại biên PAD là tình trạng xơ vữa động mạch ở các chi hầu như luôn là chi dưới gây thiếu máu cục bộ. PAD nhẹ có thể không có triệu chứng hoặc gây cơn đau cách hồi; PAD nặng... đọc thêm .Gắng sức – 35 đến 50 phút của chạy bộ 3 đến 4 lần một tuần là một điều trị quan trọng nhưng chưa được quan tâm. Các chương trình tập thể dục có giám sát có thể là tốt hơn các chương trình không được giám sát. Tập thể dục có thể làm tăng khoảng cách đi bộ không có triệu chứng và cải thiện chất lượng cuộc sống. Các cơ chế có thể bao gồm tăng tuần hoàn bàng hệ, cải thiện chức năng nội mô với giãn mạch vi mạch, giảm độ nhớt của máu, cải thiện khả năng lọc hồng cầu, giảm viêm do thiếu máu cục bộ và cải thiện quá trình chiết tách nhân nên giữ chân thấp hơn tim. Để giảm đau vào ban đêm, đầu giường có thể được nâng lên khoảng 10 đến 15 cm 4 đến 6 inch để cải thiện lưu lượng máu đến bàn nhân cũng nên tránh dùng lạnh và thuốc gây co mạch ví dụ như pseudoephedrine, chứa nhiều trong thuốc điều trị xoang mũi và cảm lạnh. Để giảm nhẹ chứng đau cách hồi, dùng pentoxifylline 400 mg 3 lần/ngày, sau bữa ăn hoặc dùng cilostazol 100 mg uống 2 lần/ngày để giảm triệu chứng đau cách hồi bằng cách cải thiện lưu lượng máu và tăng oxy hoá mô ở những vùng bị ảnh hưởng; tuy nhiên, những loại thuốc này không thay thế việc kiểm soát yếu tố nguy cơ và tập luyện thể dục. Việc sử dụng pentoxifylline gây tranh cãi vì chứng cứ về hiệu quả của nó chưa rõ ràng. Một thử nghiệm ≥ 2 tháng có thể được bảo đảm bởi vì các phản ứng phụ không phổ biến và nhẹ. Tác dụng phụ thường gặp nhất của cilostazol là nhức đầu và tiêu chảy. Cilostazol chống chỉ định ở những bệnh nhân suy tim ức chế men chuyển có nhiều tác dụng có lợi. Chúng có khả năng chống oxy hoá bằng cách ức chế sự thoái hoá của bradykinin và kích thích sự phóng thích NO, là thuốc giãn mạch. Trong số những bệnh nhân bị triệu chứng đau cách hồi, một thử nghiệm ngẫu nhiên ramipril 10 mg uống một lần/ngày cho thấy sự gia tăng đáng kể thời gian đi bộ không đau và tối đa so với giả loại thuốc khác có thể làm giảm chứng đau cách hồi đang được nghiên cứu; chúng bao gồm L-arginine tiền chất của chất làm giãn mạch phụ thuộc vào nội mô, oxit nitric, prostaglandins làm giãn mạch và các yếu tố tăng trưởng mạch máu ví dụ, yếu tố tăng trưởng nội mô mạch máu [VEGF], yếu tố tăng trưởng nguyên bào sợi cơ [bFGF]. Ở những bệnh nhân thiếu máu cục bộ trầm trọng, sử dụng đường tiêm tĩnh mạch dài hạn của prostaglandin làm giãn mạch có thể làm giảm đau và làm lành vết loét. Can thiệp mạch qua da có hoặc không đặt stent là phương pháp không phẫu thuật chính để làm giãn các mạch máu bị tắc. Can thiệp mạch qua da với đặt stent có thể giữ cho động mạch mở tốt hơn so với chỉ nong bóng. Stent tốt nhất trong động mạch lớn với dòng chảy cao chậu và thận; chúng ít hữu ích cho các động mạch nhỏ và cho đoạn tắc định can thiệp mạch qua da tương tự như phẫu thuật đau cách hồi gây ức chế hoạt động hàng ngày của bệnh nhânĐau khi nghỉ ngơiHoại tửCác tổn thương phù hợp là có hạn chế dòng chảy, hẹp động mạch chậu đoạn ngắn < 3 cm và hẹp một hay nhiều đoạn động mạch đùi chậu. Những trường hợp tắc hoàn toàn lên đến 10 hoặc 12 cm của các động mạch đùi nông có thể được làm tái thông thành công, nhưng kết quả tốt hơn khi tắc nghẽn ≤ 5 cm. Can thiệp mạch qua da cũng rất hữu ích cho hẹp động mạch chậu vị trí gần với vòng nối của động mạch đùi thiệp mạch qua da ít hữu ích hơn đối với tổn thương lan tỏa, tắc nghẽn đoạn dài và vôi hoá nhiều. Những tổn thương như vậy đặc biệt phổ biến ở bệnh nhân tiểu đường, thường ảnh hưởng đến các động mạch biến chứng của can thiệp mạch qua da bao gồm huyết khối ở vị trí giãn nở, thuyên tắc xa, tách thành động mạch, và các biến chứng liên quan đến việc sử dụng sự lựa chọn bệnh nhân phù hợp dựa trên chụp mạch hoàn chỉnh và đầy đủ, tỷ lệ thành công ban đầu đạt 85 đến 95% đối với động mạch chậu và 50 đến 70% đối với các động mạch đùi và cẳng chân. Tỷ lệ tái phát tương đối cao 25 đến 35% ≤ 3 năm; can thiệp mạch qua da vẫn có thể thành công. Phẫu thuật được chỉ định cho bệnh nhân Ai có thể chịu đựng được một thủ thuật mạch máu lớn một cách an toàn Với các triệu chứng nặng không đáp ứng với các phương pháp điều trị không xâm lấnMục đích là để làm giảm các triệu chứng, làm lành vết loét và tránh cắt cụt. Vì nhiều bệnh nhân có bệnh động mạch vành, làm cho họ có nguy cơ hội chứng mạch vành cấp trong quá trình phẫu thuật, bệnh nhân thường trải qua đánh giá tim trước khi phẫu thuật cắt đoạn phẫu thuật cắt bỏ đoạn tổn thương tắc nghẽn được sử dụng cho các tổn thương ngắn, cục bộ trong động mạch chủ chậu, đùi chung, hoặc động mạch đùi tạo mạch ví dụ bắc cầu nối đùi khoeo sử dụng các vật liệu tổng hợp hoặc tự nhiên thường là tĩnh mạch hiển hoặc tĩnh mạch khác để bắc cầu nối các tổn thương tắc nghẽn. Tái tạo mạch giúp ngăn ngừa cắt cụt chân và giảm đau cách thuật cắt thần kinh giao cảm có thể có hiệu quả ở những bệnh nhân không thể trải qua phẫu thuật mạch máu lớn, khi tắc nghẽn ở xa gây ra đau thiếu máu cục bộ nghiêm trọng. Chất hóa học ức chế giao cảm có hiệu quả như phẫu thuật cắt thần kinh giao cảm, vì thế hiếm khi được thực thuật cắt cụt là một biện pháp cuối cùng, được chỉ định cho nhiễm trùng không kiểm soát được, đau buốt không ngừng, và hoại tử tiến triển. Việc cắt cụt phải càng xa càng tốt, giữ đầu gối để sử dụng tối ưu với một bộ phận giả. Việc nén khí nén bên ngoài của chi dưới để tăng lưu lượng máu ở xa là một lựa chọn cho việc cứu chi ở những bệnh nhân có bệnh động mạch ngoại vi nặng và không có chỉ định phẫu thuật. Về mặt lý thuyết, nó kiểm soát phù nề và cải thiện lưu lượng động mạch, hồi phục tĩnh mạch, và oxy hóa mô, nhưng thiếu dữ liệu ủng hộ việc sử dụng phương pháp này. Vòng nén khí được đặt phần chi thấp hơn và phồng lên nhịp nhàng trong tâm trương, tâm thu trong khoảng từ 1 đến 2 giờ vài lần/tuần. Liệu pháp gen cũng đang được nghiên cứu. Chuyển gen DNA mã hoá VEGF có thể thúc đẩy sự tăng trưởng của mạch máu. 1. Anand S, Bosch J, Eikelboom JW, et al, on behalf of the COMPASS Investigators Rivaroxaban with or without aspirin in patients with stable peripheral or carotid artery disease an international, randomized, double-blind, placebo controlled trial. Lancet 39110117218–229, 2018. doi Bonaca MP, Bauersachs RM, Anand SS, et al Rivaroxaban in peripheral artery disease after revascularization. N Engl J Med 3821994–2004, 2020. doi 4. Rigato M, Monami M, Fadini GP Autologous cell therapy for peripheral arterial disease Systematic review and meta-analysis of randomized, nonrandomized, and noncontrolled Studies. Circ Res 12081326–1340, 2017. doi Xuất bản điện tử ngày 17 tháng 1 năm 2017. Review. 5. Teraa M, Sprengers RW, Schutgens RE, et al Effect of repetitive intra-arterial infusion of bone marrow mononuclear cells in patients with no-option limb ischemia The randomized, double-blind, placebo-controlled Rejuvenating Endothelial Progenitor Cells via Transcutaneous Intra-arterial Supplementation JUVENTAS trial. Circulation 13110851–860, 2015. doi Xuất bản điện tử ngày 7 tháng 1 năm 2015. Bệnh động mạch ngoại biên PAD xảy ra hầu như ở các chi đến 75% bệnh nhân cũng có chứng xơ vữa động mạch và/hoặc động mạch có triệu chứng,bệnh động mạch ngoại biên gây đau cách hồi, khó chịu ở chân xảy ra khi đi bộ và giảm khi nghỉ ngơi; nó là biểu hiện của chứng thiếu máu có khả năng hồi phục, tương tự như cơn đau thắt nặng có thể gây đau trong suốt thời kỳ nghỉ ngơi, phản ánh tình trạng thiếu máu không hồi phục hoặc có loét thiếu máu cục bộ trên bàn thấp ≤ 0,90 tỷ lệ huyết áp tâm thu của động mạch cánh tay và cổ chân xác định bị bệnh động mạch ngoại đổi các yếu tố nguy cơ gây xơ vữa động mạch; cho statin, thuốc chống kết tập tiểu cầu, và đôi khi thuốc ức chế men chuyển, pentoxifylline, hoặc mạch qua da có hoặc không có đặt stent có thể làm giãn tắc mạch máu; đôi khi cần thiết phải phẫu thuật cắt bỏ nội mạc tử cung hoặc ghép cầu.
Viêm tắc tĩnh mạch chi dưới, thuật ngữ chuyên môn gọi là huyết khối tĩnh mạch chi dưới, là tình trạng tắc nghẽn tĩnh mạch chi dưới, vị trí thường ở các tĩnh mạch sâu vùng cẳng chân, vùng đùi, khoeo, tĩnh mạch chậu do sự hình thành cục máu đông gây lấp lòng mạch. Minh họa hình ảnh viêm tắc tĩnh mạch chi dưới Viêm tắc tĩnh mạch chi dưới là một bệnh lý nguy hiểm vì triệu chứng có thể gây nhầm lẫn hoặc bỏ sót, dẫn đến chẩn đoán và điều trị muộn, tạo điều kiện cho cục máu đông di chuyển về tim, lên động mạch phổi gây thuyên tắc phổi. Hàng năm tại Hoa Kỳ có khoảng 50,000 bệnh nhân tử vong do thuyên tắc phổi. Có tới 10% bệnh nhân tử vong trong bệnh viện liên quan đến thuyên tắc phổi. Về lâu dài, viêm tắc tĩnh mạch sâu có thể phá huỷ các van tĩnh mạch, gây ra các hậu quả như phù, loét chi dưới… gọi là bệnh lý hậu huyết khối tĩnh mạch, ảnh hưởng đến cuộc sống và sinh hoạt của người bệnh. 60% bệnh nhân viêm tắc TM chi dưới có thể bị bệnh lý hậu huyết khối này, nếu không được điều trị và theo dõi đúng cách. Khi cục máu đông gây lấp lòng tĩnh mạch, sẽ cản trở máu từ chi dưới trở về tim. Từ đó gây ra tình trạng ứ trệ trong lòng mạch, thoát dịch ra ngoài lòng mạch, giải phóng các yếu tố viêm. Bên chân bị tắc sẽ có hiện tượng sưng, nóng, đỏ, đau, khi sờ vào thấy cảm giác căng, tăng trương lực cơ, so với chân bên lành. Tuy nhiên, giai đoạn đầu của bệnh sẽ rất khó phát hiện vì biểu hiện sưng đau đều kín đáo. Vì vậy, để chẩn đoán sớm huyết khối tĩnh mạch chi dưới, cần chú ý phát hiện Dấu hiệu Homans là dấu hiệu sớm phát hiện viêm tắc tĩnh mạch bệnh nhân đau khi hơi gấp mu bàn chân. Các yếu tố nguy cơ, hay hoàn cảnh thuận lợi dẫn đến sự hình thành huyết khối tĩnh mạch. Đau khi hơi gấp mua bàn chân có thể gợi ý bệnh lý viêm tắc tĩnh mạch chi dấu hiệu Homans Các yếu tố nguy cơ và nguyên nhân gây ra viêm tắc tĩnh mạch Sự hình thành huyết khối trong lòng tĩnh mạch thường do nhiều yếu tố phối hợp, trong đó 3 yếu tố chính được Virchow mô tả là tình trạng tăng đông, ứ trệ tuần hoàn tĩnh mạch và sự tổn thương của nội mạc thành tĩnh mạch. Các yếu tố thuận lợi của bệnh viêm tắc tĩnh mạch Tuổi tuổi càng cao, càng dễ bị huyết khối tĩnh mạch. Béo phì. Giãn và suy tĩnh mạch chi dưới. Bất động kéo dài, nằm nhiều, ít đi lại. Tiêm chích ma tuý. Sau dùng một số thuốc như thuốc tránh thai, thuốc điều trị ung thư… Nguyên nhân ngoại khoa Các phẫu thuật chấn thương chỉnh hình chi dưới như thay khớp háng, khớp gối…, các phẫu thuật vùng ổ bụng, tiểu khung là những phẫu thuật có nguy cơ cao bị viêm tắc huyết khối tĩnh mạch. Nguyên nhân sản khoa viêm tắc huyết khối tĩnh mạch dễ xảy ra ở phụ nữ mang thai do thay đổi hormone, hoặc do thai lớn chèn ép vào tĩnh mạch, sau nạo phá thai, sau mổ, sau đẻ do kiêng khem, bất động quá mức. Nguyên nhân nội khoa bệnh nhân nằm điều trị trong khoa hồi sức tích cực, suy tim nặng, đợt cấp của bệnh phổi mạn tính, tai biến mạch máu não, nhiễm trùng nặng, ung thư … phải bất động kéo dài, là những nguyên nhân dễ dẫn đến hình thành huyết khối tĩnh mạch. Bệnh lý tăng đông máu có thể là bẩm sinh do thiếu hụt một số yếu tố dẫn đến tình trạng tăng đông như thiếu hụt protein C, protein S, antithrombin III, yếu tố V Leyden… hoặc mắc phải như trong hội chứng kháng phospholipid, hội chứng thận hư, xơ gan… Sau giai đoạn mang thai phụ nữ có nguy cơ cao mắc viêm tắc tĩnh mạch chi dưới Chẩn đoán bệnh viêm tắc tĩnh mạch chi dưới Biểu hiện lâm sàng tại chân bị huyết khối tĩnh mạch là các dấu hiệu sưng, nóng, đỏ, đau, tăng trương lực cơ. Tuy nhiên, vì triệu chứng có thể không rõ ràng, cần đặc biệt chú ý đến hoàn cảnh thuận lợi làm tăng nguy cơ tắc tĩnh mạch chi dưới. Cần phân biệt viêm tắc tĩnh mạch chi dưới với một số nguyên nhân khác cũng làm chân sưng to, đau Tụ máu trong cơ thường xuất hiện sau chấn thương Vỡ kén hoạt dịch sau khoeo chân thường ở bệnh nhân có tuổi, thoái hoá khớp. Chẩn đoán chính xác cục máu đông trong lòng tĩnh mạch khá đơn giản. Chỉ cần sử dụng một máy siêu âm có thể dễ dàng phát hiện cục máu đông trong lòng tĩnh mạch chi dưới, làm tĩnh mạch ấn không xẹp. Việc chẩn đoán sâu hơn, ví dụ tìm nguyên nhân bẩm sinh do rối loạn đông máu, hoặc nguyên nhân khác ung thư, bệnh mạn tính, hay chẩn đoán biến chứng thuyên tắc phổi, thường đòi hỏi được thực hiện ở cơ sở chuyên khoa tim mạch, có sẵn các thăm dò cận lâm sàng cần thiết phục vụ chẩn đoán. Điều trị bệnh viêm tắc tĩnh mạch chi dưới Mục tiêu hàng đầu của điều trị viêm tắc tĩnh mạch là ngăn ngừa sự lan lên của cục máu đông, để ngăn chặn biến cố thuyên tắc mạch phổi. Mục tiêu lâu dài là tránh nguy cơ tái phát huyết khối tĩnh mạch chi dưới, giảm tối đa nguy cơ bệnh lý suy tĩnh mạch sâu hậu huyết khối. Các biện pháp được sử dụng bao gồm. Thuốc chống đông Có hai loại Thuốc chống đông đường truyền tĩnh mạch hay tiêm dưới da, là heparin và heparin trọng lượng phân tử thấp. Heparrin TLPT thấp được sử dụng phổ biến hơn, trong môi trường bệnh viện hoặc tại nhà với một số bệnh nhân thuốc được tiêm dưới da bụng, do nhân viên y tế hoặc người nhà bệnh nhân đã được huấn luyện thực hiện, trong vòng 5 – 7 ngày, và gối với một thuốc chống đông đường uống gọi là kháng vitamin K, dùng lâu dài. Băng chun áp lực hay tất áp lực y tế Có tính đàn hồi cao và áp lực từ 20 – 30 mmHg khi đeo, giúp duy trì một áp lực thường xuyên lên tĩnh mạch chi dưới, một mặt góp phần làm ly giải cục máu đông, giảm nguy cơ di chuyển của cục máu đông, mặt khác, ngăn ngừa biến chứng suy tĩnh mạch mạn tính. Chế độ vận động, dinh dưỡng Thông thường bệnh nhân viêm tắc tĩnh mạch chi dưới khi mới điều trị được yêu cầu nằm tại giường, nhưng chỉ sau 24 – 48 giờ và được đeo tất hay băng áp lực, bệnh nhân được khuyến cáo dậy đi lại nhẹ nhàng. Về dinh dưỡng, người bệnh thường được khuyên tránh các thức ăn có thể gây táo bón. Điều quan trọng là chế độ ăn phù hợp với chế độ điều trị thuốc chống đông, hạn chế các thức ăn có khả năng ảnh hưởng đến hiệu quả của việc dùng thuốc. Trong thời gian dùng thuốc chống đông, người bệnh được khuyên tránh các hoạt động thể lực mạnh, có nguy cơ gây chảy máu, tránh sử dụng các thuốc giảm đau chống viêm không steroid, aspirin, thuốc đông y do làm tăng nguy cơ chảy máu. Thuốc chống đông máu được chỉ định trong trường hợp viêm tắc tĩnh mạch chi dưới Thời gian điều trị Trong thời gian điều trị thuốc chống đông đường tiêm, bệnh nhân sẽ phải nằm viện, trung bình 7 – 10 ngày, nếu như không có biến chứng thuyên tắc phổi. Khi chuyển sang thuốc chống đông đường uống, bệnh nhân sẽ được theo dõi và điều trị ngoại trú. Hiệu quả điều trị thuốc chống đông kháng vitamin K đường uống được đánh giá dựa vào chỉ số INR, yêu cầu chỉ số này từ 2 – 3. Thông thường INR được xét nghiệm mỗi tháng 1 lần. INR dưới 2 chứng tỏ thuốc chống đông không có hiệu quả, INR trên 3 chỉ ra sự quá liều thuốc, có nguy cơ gây biến chứng chảy máu. Thời gian điều trị thuốc phụ thuộc vào nguyên nhân, tối thiểu là 3 tháng nếu viêm tắc tĩnh mạch có yếu tố nguy cơ rõ ràng và tạm thời, trên 12 tháng, thậm chí cả đời, nếu không rõ nguyên nhân, viêm tắc tĩnh mạch tái phát, hoặc do nguyên nhân rối loạn đông máu. Thời gian đeo tất hay băng áp lực được khuyến cáo tổi thiểu là 2 năm, tốt nhất là kéo dài, để tránh nguy cơ suy tĩnh mạch. Phòng tránh viêm tắc tĩnh mạch chi dưới Những người có nguy cơ cao bị viêm tắc tĩnh mạch như sau phẫu thuật vùng tiểu khung, chấn thương chỉnh hình …, bị các bệnh lý nội khoa nặng nề buộc phải nằm bất động kéo dài … có chỉ định dùng thuốc chống đông dự phòng. Gia đình của họ đươc khuyên phải thường xuyên thay đổi tư thế, xoa bóp chân, có thể đeo tất áp lực dự phòng huyết khối ở chân cho bệnh nhân. Phụ nữ có chỉ định điều trị hormone, dùng thuốc tránh thai, cần tham khảo bác sĩ điều trị và khám định kỳ. Phụ nữ có thai đặc biệt ở những tháng cuối, được khuyên mang tất áp lực, gác cao chân để tránh ứ trệ tuần hoàn. Sau đẻ, sau mổ nên dậy vận động sớm, xoa bóp chân tay, tránh nằm một chỗ. Người béo phì, có lối sống tĩnh tại được tư vấn giảm cân, tăng cường tập thể dục thể thao để cải thiện hoạt động bơm của cơ. Khi đi ô tô, máy bay đường dài, để tránh nguy cơ tắc tĩnh mạch, nên uống nhiều nước, co duỗi chân tay, đứng dậy đi lại sau mỗi 1 – 2 tiếng nếu có thể, ngoài ra, có thể đeo tất áp lực phòng chống tắc mạch. CNTTCBTG – BV Bạch Mai
Viêm tắc động mạch chi dưới là bệnh lý dễ bị bỏ qua do bệnh có triệu chứng không rõ ràng và thường được chẩn đoán nhầm với các bệnh lý về cơ xương khớp, bệnh do tuổi già. Bệnh viêm tắc động mạch chi dưới là tình trạng hẹp/tắc lòng động mạch chậu, đùi, khoeo, cẳng và bàn chân do xơ vữa động mạch hoặc viêm nội mạc động mạch, làm giảm dòng máu nuôi phần chi phía dưới vị trí tổn thương. Bệnh lý mạn tính có triệu chứng không điển hình nên thường được chẩn đoán nhầm với các bệnh lý về cơ xương khớp, bệnh do tuổi già. Bệnh lý này được phát hiện qua siêu âm, hình ảnh chụp mạch máu. Bệnh thường gặp ở người cao tuổi và những người có các yếu tố nguy cơ như hút thuốc lá, tiểu đường, tăng huyết áp, rối loạn chuyển hóa mỡ, ít vận động, béo phì… Dấu hiệu nhận biết Cần nghĩ đến viêm tắc động mạch chi dưới nếu bệnh nhân có các triệu chứng sau đau mỏi và co cứng bắp chân, đùi hoặc mông khi đi bộ, phải dừng lại, ngồi nghỉ một lúc mới có thể tiếp tục đi được. Hiện tượng đó lặp lại sau một khoảng cách đi bộ nhất định. Khoảng cách đó ngắn dần chứng tỏ bệnh đang tiến triển nặng lên; đau bàn chân, ngón chân liên tục, kể cả khi nghỉ ngơi. Bệnh nhân thường mất ngủ, mệt mỏi vì đau chân, da chân tái và lạnh. Giai đoạn nặng hơn sẽ bị loét và hoại tử các ngón chân, có thể cả bàn chân do thiếu máu nuôi dưỡng, kèm theo cảm giác đau liên tục, thuốc giảm đau hiệu quả không cao. Phần lớn người bệnh đến điều trị ở giai đoạn muộn do không có triệu chứng khi bệnh mới khởi đầu; hoặc nhầm với bệnh cơ xương khớp, đau thần kinh ngoại vi, do tuổi già... do đó việc điều trị bệnh thường được bắt đầu ở giai đoạn muộn với nhiều biến chứng nguy hiểm. Chẩn đoán và điều trị Nếu có triệu chứng như đã mô tả ở trên thì bệnh nhân cần đến các cơ sở y tế có chuyên khoa mạch máu để được chẩn đoán sớm và chính xác. Bác sĩ sẽ kiểm tra mạch đập ở các vị trí nếp bẹn, khoeo chân, mu chân và ống gót. Nếu không có mạch đập hoặc yếu hơn bình thường thì có thể nghĩ đến bệnh lý viêm tắc mạch. Bên cạnh đó, siêu âm mạch máu có thể biết rõ động mạch bị hẹp tắc ở đâu và mức độ như thế nào, đồng thời có thể cho biết mức độ thiếu máu chi dưới ra sao nhờ đo chênh lệch huyết áp giữa cổ chân và cánh tay. Ngoài ra, ở những bệnh viện có đầy đủ trang thiết bị y tế thì bệnh nhân có thể được chỉ định chụp mạch máu trên trên máy chụp kỹ thuật số DSA, chụp cắt lớp hệ động mạch chủ bụng chậu và toàn bộ chi dưới giúp xác định chính xác nhất vị trí động mạch bị tắc/hẹp. Với bệnh lý viêm tắc động mạch chi dưới, phương pháp điều trị tối ưu nhất, ít đau đớn cho bệnh nhân lớn tuổi là tái lưu thông động mạch bị tắc bằng phương pháp nong đặt stent động mạch chậu, đùi, khoeo… chi dưới qua da bằng ống thông. Dụng cụ can thiệp động mạch chi dưới là các dây dẫn, ống thông gắn bóng và stent, được đưa đến vị trí tổn thương qua một lỗ chọc kim ở động mạch thông gắn bóng được đưa vào vị trí hẹp/tắc của mạch để mở rộng lòng mạch. Tiếp theo, stent kim loại giá đỡ gắn trên một ống thông khác được đưa vào để mở rộng lòng mạch về mức bình thường và giữ cho lòng mạch không bị hẹp lại. Khi lòng mạch được mở thông, dòng máu được phục hồi lưu thông, các triệu chứng đau, mỏi chân khi đi bộ và đau khi nghỉ do thiếu máu sẽ giảm nhanh chóng. Các vết loét và vùng hoại tử sẽ hồi phục. Tuy nhiên phần hoại tử nặng không thể hồi phục được bắt buộc phải cắt bỏ. Chi phí để điều trị bệnh lý này còn khá cao, tuy nhiên bảo hiểm y tế hiện nay có thể chi trả trung bình khoảng 50 - 70% tổng chi phí điều trị. Vì vậy, nếu bệnh nhân có bảo hiểm y tế sẽ giảm gánh nặng tài chính rất nhiều. Trở thành người đầu tiên tặng sao cho bài viết 0 0 0 Chuyển sao tặng cho thành viên x1 x5 x10 Hoặc nhập số sao
Bài viết được tham vấn chuyên môn cùng Thạc sĩ, Bác sĩ Bùi Tiến Đạt - Khoa Hồi sức cấp cứu - Bệnh viện đa khoa Quốc tế Vinmec Hải Phòng. Tắc động mạch chủ chậu mạn tính chủ yếu do xơ vữa động mạch gây nên. Nếu không được chẩn đoán sớm và điều trị tích cực trong giai đoạn đầu, tắc động mạch chủ chậu mãn tính có thể gây hoại tử chi cùng nhiều tai biến gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe người bệnh. Tắc động mạch chủ chậu mạn tính là tình trạng tắc động mạch chủ bụng dưới động mạch thận mạn tính hoặc tắc động mạch chậu mạn nhân gây tắc động mạch chủ chậu mạn tính chủ yếu là do xơ vữa động mạch. Các yếu tố nguy cơ chính của xơ vữa động mạch là hút thuốc lá, đái tháo đường, tăng huyết áp, rối loạn chuyển hóa mỡ, tăng homocystein máu. Ngoài ra, các nguyên nhân thường gặp khác của tắc động mạch chủ chậu mạn tính là viêm xơ hóa và bệnh Takayasu. 2. Biến chứng tắc động mạch chủ chậu mạn tính Tắc động mạch chủ chậu mạn tính nếu không được can thiệp kịp thời sẽ gây nhiều hậu quả nặng nề cho người bệnh. Trong đó, thiếu máu chi dưới là tai biến thường gặp nhất. Tắc động mạch chủ chậu mãn tính gây thiếu máu chi dưới Thiếu máu chi dưới có thể làm các chi bị hoại tử, người bệnh bị giảm khả năng đi lại, giảm khả năng lao động, thậm chí trở thành tàn phế, trở thành gánh nặng cho gia đình và xã hội. Bệnh nhân bị cắt cụt chi không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe thể lực mà còn ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe tinh thần. Các nghiên cứu đã chỉ ra, bệnh nhân tắc động mạch chậu mạn tính không tử vong trực tiếp do thiếu máu chi tuy nhiên lại tử vong do các bệnh lý tim mạch phối hợp. 3. Chẩn đoán tắc động mạch chủ chậu mạn tính Các triệu chứng thường gặp của bệnh tắc động mạch chủ chậu mạn tính làĐau cách hồi là triệu chứng điển hình, thường gặp nhất trong giai đoạn sớm của bệnh. Đau cách hồi là cảm giác đau co rút cơ, xuất hiện khi gắng sức, sau khi đi được một quãng đường nhất định và hết đau khi dừng lại. Cơn đau xuất hiện trở lại khi đi cùng một khoảng cách với cùng một mức gắng chi dưới khi nằm, thường xuất hiện về đêm. Bệnh nhân có cảm giác đau rát nhưng cũng có thể tê bì, lạnh chi. Các triệu chứng cải thiện khi để thõng chân hoặc đứng chi bị thiếu máu mạn tính có các dấu hiệu như da và cơ bị teo, lông rụng, móng khô giòn, dễ gãy, mạch giảm hay mất, nhiệt độ bề mặt thấp hơn bên chi đối diện, đầu các ngón bị tím hay hoại tử, hình thành các ổ loét ở phần xa của chi. Đầu các ngón chân chi thiếu máu sẽ bị tím tái và hoại tử Ở giai đoạn nặng, bệnh nhân đau chi dưới kể cả khi nghỉ ngơi hoặc có vết thương loét, không liền, hoại lực, giảm chức năng sinh lý, teo cơ mông có thể gặp khi tắc các mạch máu đến nuôi dưỡng các bộ phận phương tiện chẩn đoán hình ảnh có thể sử dụng để chẩn đoán bệnh, xác định vị trí động mạch tắc là siêu âm Doppler, chụp CT đa lớp cắt, chụp cộng hưởng từ mạch máu và chụp X-quang động mạch. Các kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh sẽ cho phép đánh giá vị trí của động mạch bị tổn thương, mức độ lan tỏa của tổn thương, sự phát triển của tuần hoàn bàng hệ thay thế, đặc điểm của giường động mạch phía hạ lưu,... Kết quả chẩn đoán hình ảnh là cơ sở quan trọng để bác sĩ chỉ định phương pháp điều trị. 4. Phẫu thuật điều trị tắc động mạch chủ chậu mạn tính Ở các bệnh nhân đau cách hồi không đáp ứng với điều trị nội khoa hoặc các bệnh nhân thiếu máu chi trầm trọng, có thể được chỉ định phẫu thuật nhằm giảm triệu chứng, giảm đau, lành các ổ loét/ hoại tử, bảo tồn chi thiếu máu, kéo dài và nâng cao chất lượng sống cho bệnh nhân. Bệnh nhân có thể được chỉ định phẫu thuật để bảo tồn chi thiếu máu Các can thiệp ngoại khoa có thể được thực hiện làPhẫu thuật loại bỏ mảng xơ vữa trong lòng động mạch Sau đó dùng một miếng vá tĩnh mạch hoặc mạch nhân tạo mở rộng lòng động mạch tại vị trí bóc mảng xơ thuật bắc cầu nối động mạch Sử dụng cầu nối bằng tĩnh mạch hiển hoặc đoạn mạch nhân tạo. Các phẫu thuật bắc cầu nối động mạch thường được thực hiện là Cầu nối động mạch chậu- đùi, cầu nối động mạch chủ bụng- chậu hai bên, cầu nối chủ ngực- đùi hai bên, cầu nối động mạch nách- đùi, cầu nối động mạch chéo bên đùi- đùi,...Nong vị trí động mạch bị hẹp bằng bóng, có thể kèm theo đặt stent hoặc cụt chi được chỉ định khi tắc động mạch chủ chậu mạn tính giai đoạn nặng có hoại tử đầu chi hoặc kết quả can thiệp, phẫu thuật thất bại. Cố gắn giữa lại phần tỳ đè của bàn chân hoặc tối thiểu là khớp gối để làm mỏm cụt cho phục hồi chức năng. Để đặt lịch khám tại viện, Quý khách vui lòng bấm số HOTLINE hoặc đặt lịch trực tiếp TẠI ĐÂY. Tải và đặt lịch khám tự động trên ứng dụng MyVinmec để quản lý, theo dõi lịch và đặt hẹn mọi lúc mọi nơi ngay trên ứng dụng. XEM THÊM Chẩn đoán và điều trị tắc động mạch chủ chậu mạn tính Đặc điểm sinh lý của mạch máu ARSA được xác định trên siêu âm thai như thế nào? Dịch vụ từ Vinmec
Bệnh tắc động mạch mạn tính BTĐMMT còn được gọi là bệnh động mạch ngoại biên BĐMNB, bệnh mạch ngoại biên BMNB có thể xảy ra cho cả tĩnh mạch, bệnh tắc động mạch ngoại biên… và thường được hiểu là một căn bệnh của các chi, nhất là chi dưới, vì đó là nơi bệnh xảy ra nhiều nhất.⇒ Hội chứng rối loạn mạch máu bẩm sinh – Klippel – Trénaunay – Weber⇒ Xơ vữa động mạch – Những nét nhận diệnTuy nhiên, cũng không nên hiểu bệnh này chỉ là của các chi mà nó có thể ảnh hưởng đến các động mạch của toàn cơ thể, ví dụ động mạch thận gây ra cao huyết áp do mạch thận, các động mạch não gây ra đột quỵ và các cơn thiếu máu não thoáng qua, các động mạch của nhiều tạng khác trong ổ bụng…Bài này chỉ đề cập đến BTĐMMT của chi dưới. Xơ mỡ gây hẹp động mạch chân Tắc động mạch mạn tính chi dưới là tình trạng một động mạch nào đó cung cấp máu cho chi dưới bị hẹp hay bị tắc hoàn toàn, làm giảm hoặc không có máu đến nuôi chi dẫn đến tổn thương và hoại tử chi. Nguyên nhân chính của bệnh hầu hết là do xơ – mỡ động mạch. BTĐMMT của các chi chiếm tỷ lệ 12 – 14% trong dân số chung, gặp ̉ 20% những người trên 70 tuổi. Bệnh không có triệu chứng giai đoạn sớm trong 70 – 80% các trường hợp. Tỷ lệ lâm sàng có triệu chứng tăng theo tuổi và chỉ một thiểu số là phải can thiệp phục hồi mạch khoảng 7% hay cắt đoạn chi khoảng 4%. Trong khi đó, những người mắc BTĐMMT có nguy cơ đặc biệt cao về đột quỵ và biến cố động mạch vành, có tỷ lệ tử vong trước 5 năm ước tính là 30% so với 10% nhóm chứng. Bệnh kết hợp nhiều nhất với đái tháo đường, gặp 1/3 số người đái tháo đường trên 50 2010, trên thế giới có khoảng 202 triệu người mắc BTĐMMT của các chi. Năm 2013, số tử vong vào khoảng người so với năm 1990 – khoảng người.Cách tốt nhất để phòng bệnh là kiểm soát tốt các yếu tố nguy cơ và người mắc bệnh phải biết giữ gìn bàn chân cẩn thận để ngăn ngừa các biến chứng nhiễm trùng và hoại dung bài viêtTriệu chứng của bệnh tắc động mạch mạn tính chi dướiNguyên nhân của bệnh tắc động mạch mạn tính chi dướiCác yếu tố nguy cơBiến chứng của bệnh tắc động mạch mạn tính chi dướiChẩn đoánPhân loại thiếu máu mạn tính của các chiĐiều trị tắc động mạch mạn tính chi dướiThay đổi nếp sốngThuốcPhục hồi mạch máuPhòng bệnh tắc động mạch mạn tính chi dướiGiữ gìn bàn chân cẩn thậnTriệu chứng của bệnh tắc động mạch mạn tính chi dướiGiai đoạn sớm của bệnh triệu chứng rất nghèo nàn và thường dễ nhầm lẫn với bệnh khác. Biểu hiện sớm nhất của bệnh là tình trạng đau thường là ở bắp chân và khập khiễng cách hồi * người bệnh sau khi đi bộ được một đoạn đường cảm thấy đau hoặc có cảm giác chân bị bó chặt do máu đi xuống không cung cấp đủ oxy cho các cơ gây ra đi khập khiễng, phải dừng lại nghỉ thì bớt đau và sau đó có thể đi tiếp được một đoạn đường tương tự thì đau và khập khiễng trở lại. Triệu chứng này thường bị nhầm lẫn với đau do thoái hóa cột sống thắt lưng hay thoát vị đĩa đệm. Vì vậy, người bệnh ở giai đoạn này thường không được chẩn đoán và điều trị chính xác. Đau bắp chân, đi khập khiễng cách hồi Giai đoạn trễ hơn người bệnh có thể đau chân thường xuyên và liên tục ngay cả khi nghỉ ngơi, đặc biệt cơn đau thường nặng vào lúc gĩa khuya hay rạng sáng; khi thả lỏng chân, cơn đau có thể dịu hơn nên người bệnh thường mất ngủ hoặc ngủ trong tư thế ngồi thõng chân. Muộn hơn ña, phần xa của chi các ngón chân hoặc bàn chân sẽ có những vết loét hay hoại tử xuất hiện tự nhiên làm người bệnh hay nhầm lẫn với các bệnh về da liễu. Phần chi hoại tử nếu không được điều trị kịp thời sẽ hoại tử tăng dần và lan đến cẳng chân thậm chí cả vùng triệu chứng và dấu hiệu nội khoa của BTĐMMT chi dưới do tưới máu không đủ, bao gồm– Đau bó chặt ở háng, đi hoặc các cơ bắp chân sau hoạt động như đi lại hay leo cầu thang khập khiễng cách hồi.– Thay đổi màu sắc và nhiệt độ – xanh tím và lạnh so với chân kia.– Chứng nghiệm Buerger tái nhợt khi giơ cao chân và hồng lại khi đổi sang ngồi, để đánh giá suy động mạch.– Rụng lông và chậm dài các móng ở bên chi bị bệnh.– Tê bì hay yếu cẳng chân.– Mạch cổ chân – bàn chân yếu hoặc không bắt được.– Các dấu hiệu của thiếu máu chi trầm trọng ở giai đoạn muộn các ổ loét ở bàn chân – cẳng chân do suy động mạch, đau, chậm lành hoặc không lành và hoại thư ở các đầu ngón lan dần lên BTĐMMT nặng lên, đau có thể xảy ra cả khi nghỉ hay khi ǹm đau thiếu máu khi nghỉ. Gây mất ngủ. Phải thả lỏng các cẳng chân ra ngoài giường ho đi lại trong phòng có thể tạm thời giảm nhân của bệnh tắc động mạch mạn tính chi dướiNguyên nhân của tắc động mạch mạn tính chi dưới là chứng xơ – mỡ gây tắc ** chiếm trên 95% các trường hợp. Số còn lại bao gồm các bệnh viêm tắc động mạch do huyết khối hay bệnh Buerger ***, các dạng khác của viêm động mạch, thiếu máu mạn do thuyên tắc động mạch ở chi sau cơn cấp, chấn thương động mạch, huyết khối các phình động mạch, các túi phình động mạch bóc tách, giải phẫu không bình thường của các dây chằng và cơ hoặc do phơi nhiễm phóng yếu tố nguy cơBao gồm hút thuốc; đái tháo đường; béo phì; cao huyết áp; cholesterol cao; tất cả nh̃ng người 50 – 69 tuổi và có nguy cơ bệnh tim mạch nhất là đái tháo đường, hút thuốc; tuổi dưới 50 kèm các nguy cơ khác của xơ – mỡ; trong gia đình có người bị BTĐMMT, bệnh tim hay đột quỵ; người được biết là có xơ – mỡ động mạch vành, động mạch cảnh, hay bệnh động mạch thận; tất cả nh̃ng người bị cơn đau thắt ngực trước đó; tất cả nh̃ng người có Framingham risk score 10% – 20% đây là một công cụ để đánh giá nguy cơ trước 10 năm của bệnh tim – mạch.Người hút thuốc hoặc đái tháo đường có nguy cơ bị BTĐMMT lớn nhất, do dòng máu chứng của bệnh tắc động mạch mạn tính chi dướiKhi BTĐMMT của bạn gây ra bởi các mảng xơ – mỡ của thành mạch, bạn cũng có nguy cơ bị– Thiếu máu chi trầm trọng. Tình trạng này bắt đầu b̀ng các vết loét không lành, một tổn thương hay một nhiễm trùng ở bàn chân – cẳng chân. Tình trạng thiếu máu trầm trọng xảy ra khi các tổn thương hay các nhiễm tr̀ng này tiến triển và có thể gây ra hoại thư, đôi khi phải cắt đoạn chi.– Đột quỵ hay cơn đau thắt tim do mỡ cũng có thể lắng đọng ở các động mạch nuôi tim và não. Các ngón chân bị hoại tử Chẩn đoánViệc chẩn đoán chính xác bệnh và giai đoạn bệnh thường dựa vào– Khám lâm sàng. Mạch yếu hoặc không sờ được ở phía dưới nơi động mạch bị hẹp, nghe như tiếng gió rít qua ống nghe đặt trên các động mạch, huyết áp giảm bên chi bị bệnh, các tổn thương tại v̀ng thiếu máu như teo cơ, lạnh chi, tím đầu chi hoặc thậm chí hoại tử ngọn chi.– Xác định vị trí mạch máu bị tắc, đánh giá mức độ tưới máu phần xa của chi b̀ng cách đo chỉ số huyết áp cổ chân – cánh tay CSCC-CT. Chỉ số này bình thường là 1,00 – 1,40. Chẩn đoán là BTĐMMT khi chỉ số này ≤ 0,90. Khi < 0,40 thì gợi ý một BTĐMMT nặng.– Người nghi bị BTĐMMT nhưng CSCC-CT bình thường khi nghỉ, cần đo chỉ số này sau khi cho người bệnh tập trên máy chạy bộ đến khi xuất hiện cơn đau khập khiễng hoặc đo sau chạy tối đa 5 phút. Nếu chỉ số giảm 15% – 20% thì có thể chẩn đoán là bị BTĐMMT.– Siêu âm. Giúp đánh giá dòng máu và xác định vị trí động mạch bị tắc hay hẹp.– Chụp mạch máu kỹ thuật số xóa nền là tiêu chuẩn vàng, giúp xác định chính xác tổn thương vừa kết hợp điều trị can thiệp nội mạch khi có chỉ định.– Các kỹ thuật chụp động mạch khác, kể cả phương pháp chụp qua loại thiếu máu mạn tính của các chiThay cho phân loại trước đây của Fontaine 1954, ngày nay người ta sử dụng nhiều hơn phân loại của Rutherford – Baker 1997 với 4 cấp độ và 7 loại– Cấp độ 0, Loại 0 – Không triệu chứng.– Cấp độ I, Loại 1 – Khập khiễng nhẹ– Cấp độ I, Loại 2 – Khập khiễng trung bình.– Cấp độ I, Loại 3 – Khập khiễng nặng.– Cấp độ II, Loại 4 – Đau cả khi nghỉ.– Cấp độ III, Loại 5 – Mất mô nhỏ Loét thiếu máu không lớn hơn loét các ngón chân.– Cấp độ IV, Loại 6 – Mất mô lớn Các loét thiếu máu nghiêm trọng hay hoại thư thực trị tắc động mạch mạn tính chi dướiThay đổi nếp sống– Kiểm soát các yếu tố nguy cơ bỏ hút thuốc, kiểm soát đái tháo đường, kiểm soát cao huyết áp.– Dùng các thuốc chống tiểu cầu aspirin, clopidogrel dự phòng nghẽn mạch huyết khối và các statins giúp hạ cholesterol, giảm các tai biến tim-mạch.– Luyện tập đều đặn, ví dụ tập trên máy chạy bộ 35 – 50 phút, 3 – 4 lần/ tuần giúp mở các mạch máu nhỏ dòng phụ cận, cải thiện việc đi lại vả giảm các sự cố hay pentoxifylline có thể cải thiện triệu chứng rối loạn mạch ngoại biên khập khiễng cách hồi và thiếu máu cục bộ loét, hoại thư cẳng chân….Folate và vitamin B-12 có hiệu quả đối với tăng homocystein – máu homocystein được cho là một yếu tố nguy cơ về mạch máu.Phục hồi mạch máu– Tạo hình mạch tạo hình qua da – trong lòng mạch cho các mạch lớn, ví dụ động mạch đ̀i hay các động mạch chậu. Kết quả có thể không được lâu dài.– Cắt bỏ mảng xơ-mỡ phía trong thành mạch.– Nối tắt mạch, d̀ng tĩnh mạch hiển lớn hay các đoạn ghép nhân tạo.– Khi bị hoại thư chi, phải cắt đoạn chi để phòng ngừa nhiễm tr̀ng đe dọa đến tính mạng.– Làm tan hoặc cắt bỏ cục máu đông trong các trường hợp huyết khối hay thuyên tắc động mạch. Nong và đặt Stent động mạchPhòng bệnh tắc động mạch mạn tính chi dướiCách tốt nhất để phòng bệnh là giữ được nếp sống lành mạnh, kiểm soát tốt các yếu tố nguy cơ và nhất là việc gĩ gìn bàn chân. Cần lưu ý tránh d̀ng một số thuốc ch̃a cảm lạnh có chứa pseudoephedrine, gây co mạch làm nặng thêm các triệu chứng của gìn bàn chân cẩn thận– Rửa chân hàng ngày, giữ khô hoàn toàn và đề phòng các vết nứt dễ đưa đến nhiễm trùng.– Mang giày vừa khít, dày, khô ráo.– Cẩn thận khi cắt móng chân.– Không để chân trần khi đi lại.– Khám thầy thuốc ngay khi có dấu hiệu đầu tiên của đau hay tổn thương ở da* Khập khiễng cách hồi Intermittent claudication claudication có gốc từ tiếng Latinh là “claudicare có nghĩa là đi khập khiễng.** atherosclerosis obliterans** thromboangitis obliteransThS BS Trần Minh Bảo LuânTrích Tạp chí “Sống khỏe” số 12 – Bệnh viện Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh⇒ 10 lời khuyên bổ ích cho người bệnh mạch vành ⇒ Phục hồi chức năng sau tai biến mạch máu não
tắc động mạch chi dưới