Mở bài Bài thơ về tiểu đội xe không kính - tác phẩm thi vào lớp 10 trọng tâm. Có những tác phẩm đọc xong, khi gấp trang sách lại, bạn đọc quên đi ngay sau đó. Nhưng cũng có những tác phẩm đọc xong để lại trong lòng bạn đọc những ấn tượng sâu sắc. Và Bài thơ về
Xem thêm tóm tắt tác giả - tác phẩm Ngữ Văn lớp 10 sách Kết nối tri thức với cuộc sống hay, chi tiết khác: Tác giả - tác phẩm: Chùm thơ hai-cư Nhật Bản. Tác giả - tác phẩm: Thu hứng . Tác giả - tác phẩm: Mùa xuân chín.
Ngữ văn 10 | Tác giả tác phẩm Ngữ Văn 10 sách mới | Nội dung chính, Bố cục, Tóm tắt, giá trị, tác giả Văn 10. Tải app VietJack. Xem lời giải nhanh hơn! VietJack biên soạn bộ tài liệu Ngữ văn lớp 10 cả ba sách Kết nối tri thức, Cánh diều, Chân trời sáng tạo đầy đủ Học kì 1, Học kì 2 tóm lược những kiến thức trọng tâm quan trọng nhất của một tác phẩm
Tài liệu tác giả tác phẩm Ngữ văn lớp 10 học kì 2 đầy đủ Nội dung bài thơ, Nội dung đoạn trích, Nội dung tác phẩm, Hoàn cảnh sáng tác, sơ lược về tác giả, đọc hiểu văn bản và Dàn ý phân tích các tác phẩm trong chương trình Ngữ văn lớp 10. Tác giả tác phẩm Phú sông Bạch Đằng
Cách Vay Tiền Trên Momo. Đọc hiểu Tác giả - Tác phẩm Ngữ Văn 10Tác giả - Tác phẩm Ngữ văn 10 tóm gọn nội dung bài thơ, nội dung tác phẩm, nội dung đoạn trích, hoàn cảnh ra đời, cuộc đời và sự nghiệp của tác giả cũng như soạn bài, lập dàn ý phân tích các tác phẩm trong chương trình học Ngữ Văn lớp 10 giúp các bạn học sinh đọc hiểu tác phẩm lớp 10 hiệu quả hơn, chuẩn bị tốt cho các ki thi quan trọng sắp diễn ra.
Tài liệu ôn thi văn 9 vào 1021 Tác phẩm ôn thi vào lớp 10 môn Ngữ văn21 Tác phẩm ôn thi vào lớp 10 môn Văn được sưu tầm và đăng tải nhằm giúp các bạn học sinh có thêm nhiều tài liệu ôn thi vào lớp 10 môn Văn, đây đạt kết quả cao trong kỳ tuyển sinh năm nay. Mời các bạn cùng tham Đề thi Toán vào lớp 10 chọn lọc21 Đề thi vào lớp 10 môn Toán10 đề thi tuyển sinh vào lớp 10 môn Ngữ vănTài liệu ôn thi vào lớp 10 môn Ngữ Văn phần thơ và truyệnĐề thi khảo sát vào lớp 10 môn Ngữ văn Phòng GD&ĐT Thanh Oai năm học 2019 - 2020CHUYỆN NGƯỜI CON GÁI NAM XƯƠNG – Nguyễn DữMB“Đau đớn thay phận đàn bàLời rằng bạc mệnh cũng là lời chung”.Đó không chỉ là hai câu thơ quen thuộc trong “Truyện Kiều” của Nguyễn Du mà hơn như thế, nó còn là một lời tổng kết vô cùng xác đáng cho cuộc đời, thân phận của người phụ nữ trong xã hội phong kiến đầy bất công, oan trái. Cũng bởi vì người phụ nữ chịu nhiều bất công như thế hay chăng, mà đề tài viết về họ đã trở nên quen thuộc trong văn chương trung đại. Hôm nay, chúng ta sẽ cùng trở lại với đề tài này trong tác phẩm nổi tiếng của văn xuôi trung đại Việt Nam giai đoạn thế kỉ XVI – XVII - “Chuyện người con gái Nam Xương” của tác giả Nguyễn I. Tìm hiểu chung1. Tác giả- Nguyễn Dữ người huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Ông là học trò giỏi của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Sống trong cảnh chế độ phong kiến mục nát, “dông bão nổ trăm miền”, xã hội là cái “vực thẳm đời nhân loại” chỉ thấy “bóng tối đùn ra trận gió đen”, nên sau khi đỗ hương cống, Nguyễn Dữ chỉ làm quan một năm rồi lui về ở ẩn. Đó là hình thức bày tỏ thái độ chán nản trước thời cuộc của một trí thức tâm huyết nhưng sinh ra không gặp Tác phẩma. “Truyền kì mạn lục”- Là ghi chép tản mạn về những điều kì lạ vẫn được lưu Viết bằng chữ Hán, được xem là “Thiên cổ kì bút” áng văn hay ngàn đời.- Gồm 20 truyện, đề tài phong Nhân vật+ Nhân vật chính thường là những người phụ nữ đức hạnh, khao khát sống cuộc sống yên bình, hạnh phúc, nhưng lại bị những thế lực tàn bạo và lễ giáo phong kiến nghiệt ngã đẩy họ vào những cảnh ngộ éo le, bi thương, bất hạnh vì oan khuất.+ Hoặc một kiểu nhân vật khác, những trí thức tâm huyết với cuộc đời nhưng bất mãn với thời cuộc, không chịu trói mình trong vòng danh lợi,sống ẩn dật để giữ được cốt cách thanh Văn bản- “Chuyện người con gái Nam Xương” là truyền thứ 16, có nguồn gốc từ một truyện cổ tích Việt Nam có tên là “Vợ chàng Trương”.- So với truyện cổ tích “Vợ chàng Trương”, “Chuyện người con gái Nam Xương” phức tạp hơn về tình tiết và sâu sắc hơn về cảm hứng nhân Tóm tắt văn bản“Chuyện người con gái Nam Xương” viết về một cuộc đời, một số phận đầy oan khuất của một thiếu phụ tên là Vũ Thị Thiết. Đó là người con gái thùy mị, nết na, đức hạnh và xinh đẹp. Lấy chồng là Trương Sinh chưa được bao lâu thì chàng phải đi lính, nàng ở nhà phụng dưỡng mẹ già và nuôi con nhỏ. Để dỗ con, tối tối, nàng thường chỉ bóng mình trên tường mà bảo đó là cha nó. Khi Trương Sinh về, lúc đó mẹ già đã mất, đứa con bấy giờ đang tập nói, ngây thơ kể với chàng về người đêm đêm vẫn đến nhà chàng. Sẵn có tính hay ghen, nay thêm hiểu lầm, Trương Sinh mắng nhiếc đuổi vợ đi. Phẫn uất, Vũ Nương chạy ra bến Hoàng Giang tự vẫn. Khi Trương Sinh hiểu ra nỗi oan của vợ thì đã muộn,chàng lập đàn giải oan cho Đọc – hiểu văn bản1. Nhân vật Vũ Nươnga. Vẻ đẹp phẩm chất- Mở đầu tác phẩm, tác giả đã có lời giới thiệu bao quát về Vũ Nương “Tính đã thuỳ mị nết na lại thêm tư dung tốt đẹp” tạo ấn tượng về một chân dung phụ nữ hoàn Sau đó ông đi sâu miêu tả vẻ đẹp tâm hồn, phẩm chất của nhân vật trong các mối quan hệ khác nhau, trong các tình huống khác nhau.* Trước hết Vũ Nương là người phụ nữ thuỷ chung, son sắc trong tình nghĩa vợ chồng- Trong cuộc sống vợ chồng, biết Trương Sinh vốn có tính đa nghi, nên nàng luôn “giữ gìn khuôn phép, không từng để lúc nào vợ chồng phải đến thất hòa”. Nàng luôn giữ cho tình cảm gia đình đầm ấm, yên vui. Nàng là một người vợ hiền thục, khôn khéo, nết na đúng mực!- Hạnh phúc êm ấm tưởng bền lâu, không ngờ đất nước xảy ra binh biến, Trương Sinh phải đầu quân ra trận ở biên ải xa xôi. Buổi tiễn chồng đi lính, Vũ Nương rót chén rượu đầy, dặn dò chồng những lời tình nghĩa, đằm thắm, thiết tha “Chàng đi chuyến này, thiếp chẳng dám mong được đeo ấn hầu, mặc áo gấm trở về quê cũ, chỉ xin ngày về mang theo được hai chữ bình yên, thế là đủ rồi”. Ước mong của nàng thật bình dị, lời lẽ dịu dàng ấy, chứng tỏ nàng luôn coi trọng hạnh phúc gia đình mà xem thường mọi công danh phù phiếm. Nàng cảm thông trước những nỗi vất vả gian lao mà chồng sẽ phải chịu đựng “Chỉ e việc quân khó liệu, thế giặc khôn lường. Giặc cuồng còn lẩn lút, quân triều còn gian lao, rồi thế chẻ tre chưa có, mà mùa dưa chín quá kì, khiến thiếp ôm nỗi quan hoài, mẹ già triền miên lo lắng.” Qua lời nói dịu dàng, nàng cũng bộc lộ nỗi khắc khoải nhớ chồng của mình “Nhìn trăng soi thành cũ, lại sửa soạn áo rét, gửi người ải xa, trông liễu rủ bãi hoang, lại thổn thức tâm tình, thương người đất thú! Dù có thư tín nghìn hàng, cũng sợ không có cánh hồng bay bổng”. Đúng là lời nói, cách nói của một người vợ hết mực thùy mị, dịu dàng. Trái tim ấy giàu lòng yêu thương, biết chịu đựng những thử thách, biết đợi chờ để yên lòng người đi xa, thật đáng trân trọng biết bao!- Khi xa chồng, Vũ Nương ngày ngày đợi chờ, ngóng trông đến thổn thức “Giữ trọn tấm lòng thủy chung, son sắt”, “tô son điểm phấn từng đã nguôi lòng, ngõ liêu tường hoa chưa hề bén gót”. Nỗi nhớ thương dài theo năm tháng “Mỗi khi thấy bướm lượn đầy vườn, mây che kín núi, thì nỗi buồn góc bể chân trời không thể nào ngăn được”. Nàng vừa thương chồng, vừa nhớ chồng, vừa thương xót cho chính mình đêm ngày phải đối mặt với nỗi cô đơn vò võ. Tâm trạng nhớ thương đau buồn ấy của Vũ Nương cũng là tâm trạng chung của những người chinh phụ trong mọi thời loạn lạc xưa nay"… Nhớ chàng đằng đẵng đường lên bằng trờiTrời thăm thẳm xa vời khôn thấuNỗi nhớ chàng đau đáu nào xong…"Chinh phụ ngâm-> Thể hiện tâm trạng ấy, Nguyễn Dữ vừa cảm thông với nỗi đau khổ của Vũ Nương, vừa ca ngợi tấm lòng thủy chung, thương nhớ đợi chờ chồng của Khi hạnh phúc gia đình có nguy cơ tan vỡ Vũ Nương ra sức cứu vãn, hàn gắn. Khi người chồng trút cơn ghen bóng gió lên đầu, Vũ Nương đã ra sức thanh minh, phân trần. Nàng đã viện đến cả thân phận và tấm lòng của mình để thuyết phục chồng “Thiếp vốn con kẻ khó được nương tựa nhà giàu.....cách biệt ba năm giữ gìn một tiết.....” Những lời nói nhún nhường tha thiết đó cho thấy thái độ trân trọng chồng, trân trọng gia đình nhà chồng, niềm tha thiết gìn giữ gia đình nhất mực của Vũ Rồi những năm tháng sống ở chốn làng mây cung nước sung sướng nàng vẫn không nguôi nỗi thương nhớ chồng con. Vừa gặp lại Phan lang, nghe Lang kể về tình cảnh gia đình nàng đã ứa nước mắt xót thương. Mặc dù đã nặng lời thề sống chết với Linh Phi nhưng nàng vẫn tìm cách trở về với chồng con trong giây lát để nói lời đa tạ tấm lòng chồng. Rõ ràng trong trái tim người phụ nữ ấy, không bợn chút thù hận, chỉ có sự yêu thương và lòng vị tha.* Vũ Nương còn là người con dâu hiếu thảo với mẹ chồng, một người mẹ hiền đầy tình yêu thương Trong ba năm chồng đi chiến trận, một mình nàng vừa làm con vừa làm cha vừa làm mẹ để chăm sóc phụng dưỡng mẹ chồng, nuôi dạy con Với mẹ chồng, nàng là một cô con dâu hiếu thảo. Chồng xa nhà, nàng đã thay chồng phụng dưỡng mẹ chu đáo. Khi bà ốm nàng đã thuốc thang lễ bái thần phật và lấy những lời khôn khéo để khuyên răn để bà vơi bớt nỗi nhớ thương con. Đến khi bà mất, nàng đã hết lời thương xót, ma chay tế lễ cẩn trọng hệt như với cha mẹ đẻ của mình. Cái tình ấy quả có thể cảm thấu cả trời đất cho nên trước lúc chết người mẹ già ấy đã trăng trối những lời yêu thương, động viên, trân trọng con dâu “Sau này, trời xét lòng lành, ban cho phúc đức giống dòng tươi tốt, con cháu đông đàn, xanh kia quyết chẳng phụ lòng con như con đã chẳng phụ mẹ".- Với con thơ nàng hết sức yêu thương, chăm chút. Sau khi xa chồng đầy tuần, nàng sinh bé Đản, một mình gánh vác cả giang sơn nhà chồng nhưng chưa khi nào nàng chểnh mảng việc con cái. Chi tiết nàng chỉ bóng mình trên vách và bảo đó là cha Đản cũng xuất phát từ tấm lòng của người mẹ để con trai mình bớt đi cảm giác thiếu vắng tình cảm của người cha.=> Nguyễn Dữ đã dành cho nhân vật một thái độ yêu mến, trân trọng qua từng trang truyện, từ đó khắc họa thành công hình tượng người phụ nữ với đầy đủ phẩm chất tốt Số phận oan nghiệt, bất hạnh* Là nạn nhân của chế độ nam quyền, một xã hội mà hôn nhân không có tình yêu và tự Cái thua thiệt đầu tiên làm nên bất hạnh của Vũ Nương là thua thiệt về vị thế. Cuộc hôn nhân giữa Vũ Nương và Trương Sinh có phần không bình đẳng. Vũ Nương “vốn con kẻ khó” còn Trương Sinh lại là “nhà giàu” đến độ khi muốn Sinh có thể xin mẹ trăm lạng vàng để cưới Vũ Nương về. Sự cách bức giàu nghèo ấy khiến Vũ Nương sinh mặc cảm và cũng là cái thế khiến Trương Sinh có thể đối xử thô bạo, gia trưởng với nàng.* Là nạn nhân của chiến tranh phi nghĩa- Nhân vật Vũ Nương trong tác phẩm không chỉ là nạn nhân của chế độ phụ quyền phong kiến mà còn là nạn nhân của chiến tranh phong kiến, của cuộc nội chiến huynh đệ tương tàn. Nàng lấy Trương Sinh, cuộc sống hạnh phúc, cuộc sống vợ chồng kéo dài chưa được bao lâu thì chàng phải đi lính để lại mình Vũ Nương với mẹ già và đứa con còn chưa ra đời. Suốt ba năm, nàng phải gánh vác trọng trách gia đình, thay chồng phụng dưỡng mẹ già, chăm sóc con thơ, phải sống trong nỗi nhớ chồng triền miên theo năm Chiến tranh đã làm xa cách, tạo điều kiện cho sự hiểu lầm trở thành nguyên nhân gây bất hạnh. Đó cũng là ngòi nổ cho thói hay ghen, đa nghi của Trương Sinh nảy nở, phát triển, dẫn đến cái chết oan uổng của Vũ Nương.* Đỉnh điểm của bi kịch là khi gia đình tan vỡ, bản thân phải tìm đến cái Là người vợ thuỷ chung nhưng nàng lại bị chồng nghi oan và đối xử bất công, tàn Nghe lời ngây thơ của con trẻ Trương sinh đã nghi oan cho vợ, mắng nhiếc, đánh đuổi nàng đi bất chấp lời van xin khóc lóc của nàng và lời biện bạch của hàng Vũ Nương đau đớn vô cùng vì tiết giá của mình bị nghi kị, bôi bẩn bởi chính người chồng mà mình yêu Bế tắc, Vũ Nương đã phải tìm đến cái chết để giải nỗi oan ức, thoát khỏi cuộc đời đầy đau khổ, oan nghiệt.* Cái kết thúc tưởng là có hậu hoá ra cũng chỉ đậm tô thêm tính chất bi kịch trong thân phận Vũ Lược thuật lại kết thúc tác Phân tích+ Có thể coi đây là một kết thúc có hậu, thể hiện niềm mơ ước của tác giả về một kết thúc tốt lành cho người lương thiện, niềm khát khao một cuộc sống công bằng nới cái thiện cái đẹp sẽ chiến thắng cái xấu, cái ác.+ Nhưng sâu xa, cái kết thúc ấy không hề làm giảm đi tính chất bi kịch của tác phẩm. Vũ Nương hiện về uy nghi, rực rỡ nhưng đó chỉ là sự hiển linh trong thoáng chốc, là ảo ảnh ngắn ngủi và xa xôi. Sau giây phút đó nàng vẫn phải về chốn làng mây cung nước, vợ chồng con cái vẫn âm dương đôi ngả. Hạnh phúc lớn nhất đời người đàn bà ấy là được sum họp bên chồng bên con cuối cùng vẫn không đạt được. Sự trở về trong thoáng chốc và lời từ biệt của nàng đã hé ra cái sự thực cay đắng là cái nhân gian đầy oan nghiệt, khổ đau này không có chốn dung thân cho người phụ nữ vì thế mà “Thiếp chẳng thể trở lại chốn nhân gian được nữa”=> Tuy có những phẩm chất tâm hồn đáng quý nhưng Vũ Nương đã phải chịu một số phận cay đắng,oan nghiệt. Nghịch lí ấy tự nó đã là tiếng nói tố cáo xã hội phong kiến bất công phi lí đương thời chà đạp lên hạnh phúc của con người.=> Xây dựng hình tượng Vũ Nương, một mặt nhà văn ngợi ca những phẩm chất tâm hồn đáng quý của người phụ nữ, mặt khác thể hiện thái độ cảm thông thương xót cho số phận bất hạnh của họ và cực lực lên án xã hội phong kiến đương thời bất công, phi lí chà đạp, rẻ rúng con người đặc biệt là người phụ nữ. Có lẽ chưa cần nhiều, chỉ cần khai thác chân dung Vũ Nương đã đủ thấy chiều sâu hiện thực và nhân đạo của ngòi bút Nguyễn lí do nào đã dẫn đến bi kịch oan khuất mà Vũ Nương phải chịu?=> Gợi ý- Gây nên nỗi oan nghiệt trong cuộc đời Vũ Nương trước hết là lời nói ngây thơ của con trẻ nhưng sau đó là là tính ghen tuông của người chồng đa nghi vũ phu. Lời con trẻ thì ngây thơ vô tội nhưng lòng ghen tuông của người lớn thì cố vịn theo để hắt hủi, ruồng rẫy cho hả dạ. Trực tiếp- Nhưng nói cho cùng Trương Sinh phũ phàng với vợ là do bản tính anh ta vốn vậy và còn vì đằng sau anh ta có sự hậu thuẫn của cả mọt chế độ nam quyền trọng nam khinh nữ. Lễ giáo phong kiến hà khắc cho người đàn ông quyền hành vô độ với gia đình mình đặc biệt là với người phụ nữ cho nên không phải ngẫu nhiên Hồ Xuân Hương đã so sánh phụ nữ với chiếc bánh trôi nước “rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn” bởi lẽ trong xã hội nam quyền ấy thì đàn ông quả thực là thượng đế có thể "nặn" ra hình dáng cuộc đời của người phụ nữ. Trương Sinh đã là một tội nhân bức tử Vũ Nương nhưng cuối cùng y vẫn vô can ngay cả khi nỗi oan khiên cuả Vũ Nương đã được làm sáng tỏ. Gián tiếp- Ngoài ra cũng còn phải tính đến nhân tố khác cấu thành bi kịch Vũ Nương đó là chiến tranh phong kiến, chính chiến tranh phong kiến đã gây nên cảnh sinh li và sau đó góp phần tạo nên cảnh tử biệt. Nếu không có cảnh chiến tranh loạn li thì sẽ không xảy ra tình huống chia cách để rồi dẫn đến bi kịch oan khuất trên. Gián tiếp- Liên hệ với thời điểm ra đời của tác phẩm là thế kỉ XVI khi chiến tranh phi nghĩa giữa các tập đoàn phong kiến Trịnh - Mạc, Lê - Trịnh kéo dài liên miên gây nên bao thảm cảnh sẽ thấy ý nghĩa hiện thực và hàm ý tố cáo của tác phẩm rất sâu Các chi tiết kì ảoa. Những chi tiết kì ảo- Phan Lang nằm mộng rồi thả Phan Lang lạc vào động rùa của Linh Phi, được đãi yến và gặp, trò chuyện với Vũ Nương; được trở về dương Vũ Nương hiện về sau khi Trương Sinh lập đàn giải oan cho nàng ở bến Hoàng Ý nghĩa- Tăng sức hấp dẫn bằng sự li kì và trí tượng tượng phong Hoàn chỉnh thêm những nét đẹp vốn có của Vũ Nương, một người dù đã ở thế giới khác, vẫn quan tâm đến chồng con, nhà cửa, phần mộ tổ tiên, khao khát được phục hồi danh Tạo nên một kết thúc phần nào có hậu, thể hiện ước mơ ngàn đời của nhân dân ta về sự công bằng người tốt dù có phải trải qua bao oan khuất, cuối cùng sẽ được minh Khẳng định niềm cảm thương của tác giả đối với sự bi thảm của người phụ nữ trong xã hội phong Ý nghĩa chi tiết cái bónga. Cách kể chuyện- Cái bóng là một chi tiết đặc sắc, là một sáng tạo nghệ thuật độc đáo làm cho câu chuyện hấp dẫn hơn so với truyện cổ Cái bóng là đầu mối, điểm nút của câu chuyện. Thắt nút là nó, mà mở nút cũng là Góp phần thể hiện tính cách nhân vật- Bé Đản ngây thơ- Trương Sinh hồ đồ, đa Vũ Nương yêu thương chồng Cái bóng góp phần tố cáo xã hội phong kiến xung tàn, khiến hạnh phúc của người phụ nữ hết sức mong Tổng kết1. Nội dungQua câu chuyện về cuộc đời và cái chết thương tâm của Vũ Nương, “Chuyện người con gái Nam Xương” thể hiện niềm cảm thương đối với số phận oan nghiệt của người phụ nữ Việt Nam dưới chế độ phong kiến, đồng thời khẳng định vẻ đẹp truyền thống của Nghệ thuậtTác phẩm là một áng văn hay, thành công về nghệ thuật xây dựng truyện, miêu tả nhân vật, kết hợp tự sự với trữ EM THÚY KIỀU – Nguyễn DuI. Tìm hiểu chung1. Vị trí đoạn trích Đoạn trích nằm ở phần mở đầu tác phẩm, giới thiệu gia cảnh của Kiều. Khi giới thiệu những người trong gia đình Kiều, tác giả tập trung tả tài sắc Thúy Vân và Thúy Kết cấu bố cục đoạn tríchKết cấu của đoạn trích và nhận xét kết cấu ấy có liên quan như thế nào với trình tự miêu tả nhân vật của tác giả.=> Trả lời* Đoạn "Chị em Thúy Kiều" có kết cấu- Bốn câu đầu giới thiệu khái quát hai chị em Thúy Bốn câu tiếp gợi tả vẻ đẹp Thúy Mười hai câu tiếp gợi tả vẻ đẹp Thúy Kiều- Bốn câu cuối khái quát chung về cuộc sống hai chị em Thúy Kiều.* Kết cấu của đoạn trích cho thấy trình tự miêu tả nhân vật của tác giả+ Bốn câu đầu khái quát được vẻ đẹp chung mai cốt cách, tuyết tinh thần, mười phân vẹn mười và vẻ đẹp riêng mỗi người một vẻ của từng người. Sau đó, tác giả mới đi sâu gợi tả vẻ đẹp của từng nhân vật.+ Bốn tiếp khắc họa rõ hơn vẻ đẹp của Thúy Vân, từ khuôn mặt, đôi mày, mái tóc, làn da, nụ cười, giọng nói, đều nhằm thể hiện vẻ đẹp đầy đặn, phúc hậu mà quý phái của người thiếu nữ.* Bức chân dung Thúy Vân được gợi tả trước, có tác dụng làm nền để nổi bật lên vẻ đẹp của bức chân dung Thúy Kiều trong mười hai câu thơ tiếp theo.+ Mười hai câu thơ tiếp khắc họa vẻ đẹp Thúy Kiều với cả sắc, tài, tình. Kiều là một tuyệt thế giai nhân "nghiêng nước nghiêng thành". Kiều "sắc sảo" về trí tuệ và "mặn mà" về tâm hồn. Vẻ đẹp ấy thể hiện tập trung ở đôi mắt "Làn thu thủy nét xuân sơn". Tài năng của Kiều đạt tới mức lí tưởng, gồm cả cầm đàn, kì cờ, thi thơ, họa vẽ.+ Bốn câu cuối khái quát cuộc sống phong lưu, nền nếp, đức hạnh, trẻ trung của hai chị em Thúy Kiều.* Một kết cấu như trên vừa chặt chẽ, hợp lí, vừa góp phần làm nổi bật vẻ đẹp chung và nhất là vẻ đẹp riêng của hai chị em Thúy Đọc – hiểu văn bản1. Chân dung Thúy Vân, Thúy Kiềua. Giới thiệu khái quát nhân vật- Trước hết, Nguyễn Du giới thiệu chung về hai chị em trong gia đình, lời giời thiệu cổ điển, trang trọng rằng họ là “tố nga”, đẹp và trong sángĐầu lòng hai ả tố ngaThúy Kiều là chị em là Thúy Tiếp đến, tác giả miêu tả chung vẻ đẹp của hai chị em trong một nhận xét mang tính chất lí tưởng hóa, tuyệt đối hóa đẹp một cách hoàn thiệnMai cốt cách tuyết tinh thầnMỗi người một vẻ mười phân vẹn mười.+ Với bút pháp ước lệ tượng trưng, tác giả đã gợi tả vẻ đẹp duyên dáng, thanh tao, trong trắng của người thiếu nữ ở hai chị em Thúy Kiều “Mai cốt cách, tuyết tinh thần”. Vóc dáng mảnh mai, tao nhã như mai; tâm hồn trắng trong như tuyết. => Đó là vẻ đẹp hài hòa đến độ hoàn mĩ cả hình thức lẫn tâm hồn, cả dung nhan và đức hạnh.+ Hai chị em đều tuyệt đẹp, không tì vết “mười phân vẹn mười”, song mỗi người lại mang nét đẹp riêng khác nhau “mỗi người một vẻ”.-> Bốn câu thơ đầu là bức tranh nền để từ đó tác giả dẫn người đọc lần lượt chiêm ngưỡng sắc đẹp của từng Gợi tả vẻ đẹp của Thúy Vân- Câu thơ mở đầu “Vân xem trang trọng khác vời” đã giới thiệu khái quát vẻ đẹp của Thúy Vân một vẻ đẹp cao sang, quí Bút pháp ước lệ tượng trưng, phép ẩn dụ, nhân hoá “khuôn trăng”, “nét ngài”, “hoa cười ngọc thốt, “Mây thua nước tóc tuyết nhường màu da”-> Vẻ đẹp của Thúy Vân là vẻ đẹp đầy đặn, phúc hậu; tính cách thì đoan trang, thùy mị khuôn mặt đầy đặn, tươi sáng như trăng đêm rằm; lông mày sắc nét như mày ngài; miệng cười tươi thắm như hoa; giọng nói trong trẻo thốt ra từ hàm răng ngọc ngà là những lời đoan trang, thùy mị. Mái tóc của nàng đen mượt hơn mây, da trắng mịn màng hơn liệu còn tiếp mời các bạn tải để xem hết toàn bộ tài liệu.............................................Ngoài 21 Tác phẩm ôn thi vào lớp 10 môn Văn. Mời các bạn học sinh còn có thể tham khảo các đề thi học kì 2 lớp 9 các môn Toán, Văn, Anh, Lý, Địa, Sinh mà chúng tôi đã sưu tầm và chọn lọc. Với đề Thi vào lớp 10 năm 2019 này giúp các bạn rèn luyện thêm kỹ năng giải đề và làm bài tốt hơn. Chúc các bạn ôn thi tốt
Cuốn sách 19 tác phẩm luyện thi vào lớp 10 môn ngữ văn do Tủ sách luyện thi tổng hợp và biên soạn nhằm cung cấp cho các em những kiến thức trọng tâm của các tác phẩm văn học trong chương trình ngữ văn 9 thi vào lớp 10. Đây là tài liệu vô cùng bổ ích dành cho các em học sinh lớp 9 tham khảo như Đồng chí, Bài thơ về tiểu đội xe không kính, Mùa xuân nho nhỏ, Đoàn thuyền đánh cá, Sang thu, Nói với con, Viếng lăng bác, Khúc hát ru những em bé lớn lên trên lưng mẹ, Con cò, giúp các bạn hệ thống lại kiến thức của từng tác phẩm văn học. Trong sách này cung cấp dàn ý nhằm giúp các em xác định, định hướng nội dung, và sau đó là các bài văn tiêu biểu đã được triển khai một cách hàm súc nhất, để các em có cơ sở tham khảo và vận dụng theo cách của mình. Để rồi từ kiến thức vựng vàng đó, các em sẽ đủ cơ sở để thi vào các trường công lập và các trường chuyên THPT. CLICK LINK DOWNLOAD EBOOK TẠI ĐÂY. OR CLICK LINK DOWNLOAD WORD DÀNH CHO GV
Chuyên mục sẽ giúp các bạn có được các bài tóm tắt tác phẩm ngắn gọn nhưng vẫn đủ ý để tham khảo. Những bài tóm tắt này rất hữu ích khi các bạn làm bài soạn văn 10, soạn văn 10 ngắn gọn hay soạn văn 10 siêu ngắn.
Thơ Lớp 10 Hay Nhất ❤️ Tuyển Tập Bài Thơ Lớp Mười ✅ Cập Nhật Ngay Tổng Hợp Trọn Bộ Những Bài Thơ Dành Cho Học Sinh Lớp Mười Trong Bài Viết Này Nhé. Các Bài Thơ Lớp 10 Các Bài Thơ Lớp 10 Hk1 Các Bài Thơ Lớp 10 Hk2Thơ Nhàn Lớp 10Bài Thơ Thu Hứng Lớp 10Bài Thơ Chinh Phụ Ngâm Lớp 10 SgkBài Thơ Phú Sông Bạch Đằng Sgk Lớp 10Thơ Trao Duyên Lớp 10Bài Thơ Bình Ngô Đại Cáo Lớp 10 Thơ Chí Khí Anh Hùng Lớp 10Bài Tỏ Lòng Ngữ Văn 10Thơ Trung Đại Lớp 10Thơ Đường Lớp 10Thơ Song Thất Lục Bát Lớp 10 Phần đầu tiên của bài viết, xin chia sẻ đến bạn đọc tổng hợp trọn bộ Các Bài Thơ Lớp 10 ngay sau đây. Đọc Tiểu Thanh kí – Nguyễn Du Phiên âm Tây Hồ hoa uyển tẫn thành khư,Độc điếu song tiền nhất chỉ phấn hữu thần liên tử hậu,Văn chương vô mệnh lụy phần kim hận sự thiên nan vấn,Phong vận kỳ oan ngã tự tri tam bách dư niên hậu,Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như? Dịch nghĩa Vườn hoa bên Tây Hồ đã thành bãi hoang rồi,Chỉ viếng nàng qua một quyển sách đọc trước cửa phấn có thần chắc phải xót xa vì những việc sau khi chết,Văn chương không có số mệnh mà cũng bị đốt dởNhững mối hận cổ kim khó mà hỏi trời đượcTa tự coi như người cùng một hội với kẻ mắc nỗi oan lạ lùng vì nết phong nhãKhông biết hơn ba trăm năm sauThiên hạ ai người khóc Tố Như? Dịch thơ Tây hồ cảnh đẹp hóa gò hoangThổn thức bên song mảnh giấy tànSon phấn có thần chôn vẫn hậnVăn chương không mệnh đốt còn vươngNỗi hờn kim cổ trời khôn hỏiCái án phong lưu khách tự mangChẳng biết ba trăm năm lẻ nữaNgười đời ai khóc Tố Như chăng Cảnh ngày hè – Nguyễn Trãi Rồi hóng mát thuở ngày trường,Hoè lục đùn đùn tán rợp lựu hiên còn phun thức đỏ,Hồng liên trì đã tiễn mùi xao chợ cá làng ngư phủ,Dắng dỏi cầm ve lầu tịch có Ngu cầm đàn một tiếng,Dân giàu đủ khắp đòi phương. Khe chim kêu – Vương Duy Phiên âm Nhân nhàn hoa quế lạc,Dạ tĩnh xuân sơn xuất kinh sơn điểu,Thời minh tại giản trung. Dịch nghĩa Người nhàn, hoa quế rụng,Đêm yên tĩnh, non xuân vắng lên làm chim núi giật mình,Thỉnh thoảng cất tiếng kêu trong khe núi. Dịch thơ Người nhàn hoa quế nhẹ rơi,Đêm xuân lặng ngắt trái đồi vắng lên, chim núi giật mình,Tiếng kêu thủng thẳng đưa quanh khe đồi. 🍁Ngoài Các Bài Thơ Lớp 10, Tặng Bạn Tuyển Chọn Bài Thơ Lớp 4 ❤️ Tuyển Tập Trộn Bộ Bài Thơ Hay Nhất Các Bài Thơ Lớp 10 Hk1 Cập nhật thêm Các Bài Thơ Lớp 10 Hk1 tổng hợp bên dưới bạn nhé. Lầu Hoàng Hạc – Thôi Hiệu Phiên âm Tích nhân dĩ thừa hoàng hạc khứ,Thử địa không dư Hoàng Hạc hạc nhất khứ bất phục phản,Bạch vân thiên tải không du xuyên lịch lịch Hán Dương thụ,Phương thảo thê thê Anh Vũ mộ hương quan hà xứ thị?Yên ba giang thượng sử nhân sầu. Dịch nghĩa Người xưa đã cưỡi hạc vàng bay đi,Nơi đây chỉ còn lại lầu Hoàng vàng một khi bay đi đã không trở lại,Mây trắng ngàn năm vẫn phiêu diêu trên sông lúc trời tạnh, phản chiếu cây cối Hán Dương rõ mồn một,Cỏ thơm trên bãi Anh Vũ mơn mởn xanh về chiều tối, tự hỏi quê nhà nơi đâu?Trên sông khói toả, sóng gợn, khiến người sinh buồn! Dịch thơ Tản Đà Hạc vàng ai cưỡi đi đâu?Mà nay Hoàng Hạc riêng lầu còn vàng đi mất từ xưa,Nghìn năm mây trắng bây giờ còn Dương sông tạnh cây bày,Bãi xưa Anh Vũ xanh dày cỏ hương khuất bóng hoàng sông khói sóng cho buồn lòng ai? Nỗi oán của người phòng khuê – Vương Xương Phiên âm Khuê trung thiếu phụ bất tri sầu,Xuân nhật ngưng trang thướng thúy kiến mạch đầu dương liễu sắc,Hối giao phu tế mịch phong hầu. Dịch nghĩa Người đàn bà trẻ nơi phòng khuê không biết buồn,Ngày xuân trang điểm lộng lẫy bước lên lầu thấy màu xuân của cây dương liễu đầu đường,Hối hận đã để chồng đi tòng quân kiếm tước hầu. Dịch thơ Tản Đà Trẻ trung nàng biết chi sầuNgày xuân trang điểm lên lầu ngắm gươngNhác trong vẻ liễu bên đường“Phong hầu” nghĩ dại, xui chàng kiếm chi! Thơ Hai-cư của Ba-sô 1 Đất khách mười mùa sươngvề thăm quê ngoảnh lạiÊ-đô là cố hương. 2 Chim đỗ quyên hótở Kinh đômà nhớ Kinh đô. 3 Lệ trào nóng hổitan trên tay tóc mẹlàn sương thu. 4 Tiếng vượn hú não nềhay tiếng trẻ bị bỏ rơi than khóc?gió mùa thu tái tê. 5 Mưa đông giăng đầy trờichú khỉ con thầm ướccó một chiếc áo tơi. 6 Từ bốn phương trời xacánh hoa đào lả tảgợn sóng hồ Bi-oa. 7 Vắng lặng u trầmthấm sâu vào đátiếng ve ngâm. 8 Nằm bệnh giữa cuộc lãng dumộng hồn còn phiêu bạtnhững cánh đồng hoang vu. ⚡ Ngoài Các Bài Thơ Lớp 10 Hk1, Khám Phá Ngay Thơ Lớp 11 Hay Nhất ❤️ Những Bài Thơ Lớp Mười Một Các Bài Thơ Lớp 10 Hk2 xin tổng hợp thêm Các Bài Thơ Lớp 10 chương trình học kì 2. Cập nhật ngay bạn nhé. Nỗi thương mình – Nguyễn Du “Biết bao bướm lả ong lơiCuộc say đầy tháng trận cười suốt dìu lá gió cành chimSớm đưa Tống Ngọc tối tìm Trường tỉnh rượu lúc tàn canhGiật mình mình lại thương mình xót sao phong gấm rủ làGiờ sao tan tác như hoa giữa sao dày gió dạn sươngThân sao bướm chán ong chường bấy thân. Mặc người mưa Sở mây TầnNhững mình nào biết có xuân là phen gió tựa hoa kềNửa rèm tuyết ngậm bốn bề trăng nào cảnh chẳng đeo sầuNgười buồn cảnh có vui đâu bao phen nét vẽ câu thơCung cầm trong nguyệt nước cờ dưới là vui gượng kẻo làAi tri âm đó mặn mà với ai”. Thề nguyền – Nguyễn Du “Cửa ngoài vội rủ rèm the,Xăm xăm băng lối vườn khuya một mìnhNhặt thưa gương giọi đầu cành,Ngọn đèn trông lọt trướng huỳnh hắt vừa tựa án thiu thiu,Dở chiều như tinh dở chiều như sen sẽ động giấc hoè,Bóng trăng đã xế hoa lê lại gầnBâng khuâng đỉnh Giáp non thầnCòn ngờ giấc mộng đêm xuân mơ màngNàng rằng “Khoảng vắng đêm trường,Vì hoa nên phải trổ đường tìm hoa. Bây giờ rỏ mật đôi ta,Biết đâu rồi nữa chẳng là chiêm bao?”“Vội mừng làm lễ rước vào,Đài sen nối sáp, lò đào thêm hươngTiên thề cùng thảo một chươngTóc mây một món dao vàng chia đôiVừng trăng vàng vặc giữa trời,Đinh ninh hai miệng một lời song tơ cân vặn tấc lóng,Trăm năm tạc một chữ đổng đốn xương. 🍁 Ngoài Các Bài Thơ Lớp 10 Hk2, Tặng Bạn Tuyển Tập Thơ Lớp 9 Hay Nhất ❤️ Tuyển Tập Bài Thơ Lớp Chín Thơ Nhàn Lớp 10 Thơ Nhàn Lớp 10 là lời tâm sự thâm trầm, sâu sắc, khẳng định quan niệm sống nhàn là hòa hợp với thiên nhiên, coi thường danh lợi, luôn giữ cốt cách thanh cao trong mọi hoàn cảnh của cuộc sống. Một mai, một cuốc, một cần câuThơ thẩn dầu ai vui thú nàoTa dại, ta tìm nơi vắng vẻNgười khôn, người đến chốn lao xaoThu ăn măng trúc, đông ăn giáXuân tắm hồ sen, hạ tắm aoRượu, đến gốc cây, ta sẽ uốngNhìn xem phú quý, tựa chiêm bao.Theo Nguyễn Bỉnh Khiêm 🌻 Bên Cạnh Thơ Nhàn Lớp 10, Chia Sẻ Thêm Bài Thơ Lớp 2 Hay Nhất ❤️️ Trọn Bộ Thơ Lớp Hai Ý Nghĩa Bài Thơ Thu Hứng Lớp 10 Bài Thơ Thu Hứng Lớp 10 vẽ nên bức tranh mùa thu hiu hắt, mang đặc trưng của núi rừng, sông nước Quỳ Châu. Đồng thời, bài thơ còn là bức tranh tâm trạng buồn lo của nhà thơ trong cảnh loạn li. Phiên âm Ngọc lộ điêu thương phong thụ lâm,Vu sơn, Vu giáp khí tiêu gian ba lãng kiêm thiên dũng,Tái thượng phong vân tiếp địa cúc lưỡng khai tha nhật lệ,Cô chu nhất hệ cố viên y xứ xứ thôi đao xích,Bạch Đế thành cao cấp mộ châm.Theo Đỗ Phủ Dịch nghĩa Móc ngọc tơi bời ở rừng phong,Khí ở núi Vu và kẽm Vu ảm đạm mịt mờTrên sông, nước và trời cùng trôi chảy,Ngoài ải, gió và mây liên tiếp mù từng chòm nở hai lần dòng lệ xưa,Thuyền lẻ loi buộc chặt mối tình quê nơi giục giã dao thước may áo rét,Tiếng chày chiều dồn dập thành cao Bạch Đế. Dịch thơ Nguyễn Công Trứ Lác đác rừng phong hạt móc sa,Ngàn non hiu hắt, khí thu trời sóng rợn lòng sông thẳm,Mặt đất mây đùn cửa ải cúc tuôn thêm dòng lệ cũ,Con thuyền buộc chặt mối tình lùng giục kẻ tay đao thước,Thành Bạch, chày vang bóng ác tà. 🍁 Ngoài Bài Thơ Thu Hứng Lớp 10, Tiết Lộ Thêm Thơ Lớp 7 Hay Nhất ❤️ Trọn Bộ Những Bài Thơ Lớp Bảy Bài Thơ Chinh Phụ Ngâm Lớp 10 Sgk Bài Thơ Chinh Phụ Ngâm Lớp 10 là tâm trạng nhớ thương của người chinh phụ. Nàng từ tâm trạng nhớ nhung nhìn ra cảnh vật, rồi từ cảnh vật lại thu về cõi lòng mình. Tất cả gợi ra nỗi nhớ triền miên, dai dẳng ngày một tăng. Dạo hiên vắng thầm gieo từng bướcNgồi rèm thưa rủ thác đòi rèm thước chẳng mách tin,Trong rèm dường đã có đèn biết chăng?Đèn có biết dường bằng chẳng biết?Lòng thiếp riêng bi thiết mà rầu nói chẳng nên lời,Hoa đèn kia với bóng người khá thương! Gà eo óc gáy sương năm trống,Hòe phất phơ rủ bóng bốn giờ đằng đẵng như niên,Mối sầu dằng dặc tựa miền biển xa. Hương gượng đốt hồn đà mê mải,Gương gượng soi lệ lại châu cầm gượng gảy ngón đàn,Dày uyên kinh đứt, phím loan ngại chùng. Lòng này gửi gió đông có tiện?Nghìn vàng xin gửi đến non Yên dù chẳng tới miền,Nhớ chàng thăm thẳm đường lên bằng trời Non Yên dù chẳng tới miền,Nhớ chàng thăm thẳm đường lên bằng trờiTrời thăm thẳm xa vời khôn thấu,Nỗi nhớ chàng đau đáu nào buồn người thiết tha lòng,Cành cây sương đượm tiếng trùng mưa phun.Theo Đặng Trần Côn 🌻 Khám Phá Thêm 1001 Thơ Lớp 5 Hay Nhất ❤️ Trọn Bộ Những Bài Thơ Lớp Năm Bài Thơ Phú Sông Bạch Đằng Sgk Lớp 10 Bài Thơ Phú Sông Bạch Đằng thể hiện lòng yêu nước và niềm tự hào dân tộc trước chiến công trên sông Bạch Đằng. Đồng thời ca ngợi truyền thống anh hùng bất khuất, truyền thống đạo lí nhân nghĩa của dân tộc Việt Nam. Khách có kẻGiương buồm giong gió chơi vơi,Lướt bể chơi trăng mải gõ thuyền chừ Nguyên Tương,Chiều lần thăm chừ Vũ Giang, Ngũ Hồ,Tam Ngô, Bách có người đi,Đâu mà chẳng Vân Mộng chứa vài trăm trong dạ cũng nhiều,Mà tráng chí bốn phương vẫn còn tha giữa dòng chừ buông chèo,Học Tử Trường chừ thú tiêu cửa Đại Than,Ngược bến Đông Triều,Đến sông Bạch Đằng,Thuyền bơi một ngát sóng kình muôn dặm,Thướt tha đuôi trĩ một màu. Nước trời một sắc, phong cảnh ba lau san sát, bến lách đìu hiuSông chìm giáo gãy, gò đầy xương vì cảnh thảm, đứng lặng giờ nỗi anh hùng đâu vắng tá,Tiếc thay dấu vết luống còn lưu. Bên sông bô lão hỏi, Hỏi ý ta sở cầu. Có kẻ gậy lê chống trước, Có người thuyền nhẹ bơi sau. Vái ta mà thưa rằng “Đây là chiến địa buổi trùng hưng nhị thánh bắt Ô Mã, Cũng là bãi đất xưa, thuở trước Ngô chúa phá Hoằng Thao.” Đương khi ấy Thuyền tàu muôn đội, Tinh kì phấp phới. Hùng hổ sáu quân, Giáo gươm sáng chói. Trận đánh được thua chửa phân, Chiến luỹ bắc nam chống đối. Ánh nhật nguyệt chừ phải mờ, Bầu trời đất chừ sắp đổi. Kìa Tất Liệt thế cường, Lưu Cung chước dối. Những tưởng gieo roi một lần, Quét sạch Nam bang bốn cõi. Thế nhưng Trời cũng chiều người, Hung đồ hết lối Trận Xích Bích, quân Tào Tháo tan tác tro bay, Trận Hợp Phì, giặc Bồ Kiên hoàn toàn chết trụi. Đến nay sông nước tuy chảy hoài, Mà nhục quân thù khôn rửa nổi. Tái tạo công lao, Nghìn xưa ca ngợi. Tuy nhiên Từ có vũ trụ, Đã có giang san. Quả là trời đất cho nơi hiểm trở, Cũng nhờ nhân tài giữ cuộc điện an! Hội nào bằng hội Mạnh Tân, có vương sư họ Lã, Trận nào bằng trận Duy Thuỷ, có quốc sĩ họ Hàn. Khi trận Bạch Đằng mà đại thắng, Bởi đại vương coi thế giặc nhàn. Tiếng thơm còn mãi, Bia miệng không mòn. Đến chơi sông chừ ủ mặt, Nhớ người xưa chừ lệ chan. Rồi vừa đi vừa ca rằng “Sông Đằng một dải dài ghê, Sóng hồng cuồn cuộn tuôn về bể Đông. Những người bất nghĩa tiêu vong, Nghìn thu chỉ có anh hùng lưu danh!” Khách cũng nối tiếp mà ca rằng “Anh minh hai vị thánh quân, Sông đây rửa sạch mấy lần giáp binh. Giặc tan muôn thuở thanh bình, Bởi đâu đất hiểm, cốt mình đức cao.Theo Trương Hán Siêu 🌻 Tặng Bạn Trọn Bộ 1001 Bài Thơ Lớp 3 ❤️ Tuyển Tập Những Bài Thơ Hay Nhất Thơ Trao Duyên Lớp 10 Bài Thơ Trao Duyên Lớp 10 trích trong Truyện Kiều thể hiện bi kịch trong tình yêu của Thúy Kiều qua đó thể hiện tiếng kêu đau đớn của tác giả về số phận con người trong xã hội phong kiến Cậy em, em có chịu lời,Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ đường đứt gánh tương tư,Keo loan chắp mối tơ thừa mặc từ khi gặp chàng Kim ,Khi ngày quạt ước, khi đêm chén đâu sóng gió bất kỳ,Hiếu tình khôn lẽ hai bề vẹn hai?Ngày xuân em hãy còn dài,Xót tình máu mủ, thay lời nước dù thịt nát xương mòn,Ngậm cười chín suối hãy còn thơm thoa với bức tờ mâyDuyên này thì giữ, vật này của em nên vợ nên chồng,Xót người mệnh bạc ắt lòng chẳng quên! Mất người còn chút của tin,Phím đàn với mảnh hương nguyền ngày sau dù có bao giờ,Đốt lò hương ấy, so tơ phím ra ngọn cỏ gió cây,Thấy hiu hiu gió, thì hay chị còn mang nặng lời thề,Nát thân bồ liễu đền nghì trúc đài cách mặt, khuất lời,Rảy xin chén nước cho người thác giờ trâm gãy bình tan,Kể làm sao xiết muôn vàn ái ân!Trăm nghìn gửi lạy tình quânTơ duyên ngắn ngủi có ngần ấy sao phận bạc như vôi?Đã đành nước chảy hoa trôi lỡ Kim Lang! Hỡi Kim lang!Thôi thôi thiếp đã phụ chàng từ đây!Theo Nguyễn Du 💐 Ngoài Thơ Trao Duyên Lớp 10, Chia Sẻ Thêm Thơ Lớp 8 Hay Nhất ❤️ Trọn Bộ Những Bài Thơ Lớp Tám Bài Thơ Bình Ngô Đại Cáo Lớp 10 Bài Thơ Bình Ngô Đại Cáo Lớp 10 của Nguyễn Trãi có ý nghĩa như bản tuyên ngôn độc lập. Từng nghe Việc nhân nghĩa cốt ở yên dânQuân điếu phạt trước lo trừ bạoNhư nước Đại Việt ta từ trướcVốn xưng nền văn hiến đã lâu Núi sông bờ cõi đã chiaPhong tục Bắc Nam cũng khácTừ Triệu, Đinh, Lí, Trần bao đời gây nền độc lậpCùng Hán, Đường, Tống, Nguyên, mỗi bên xưng đế một phươngTuy mạnh yếu từng lúc khác nhau,Song hào kiệt đời nào cũng có Vậy nên Lưu Cung tham công nên thất bại;Triệu Tiết thích lớn phải tiêu vong;Cửa Hàm Tử bắt sống Toa ĐôSông Bạch Đằng giết tươi Ô MãViệc xưa xem cứ còn ghi. 🍁 Tiết Lộ Thêm Cho Bạn Thơ Lớp 12 Hay Nhất ❤️ Những Bài Thơ Lớp Mười Hai Thơ Chí Khí Anh Hùng Lớp 10 Thơ Chí Khí Anh Hùng Lớp 10 qua hình tượng nhân vật Từ Hải, Nguyễn Du thể hiện lí tưởng về người anh hùng lí tưởng và gửi gắm ước mơ công lí. Biết thân chạy chẳng khỏi trời,Cũng liều mặt phấn cho rồi ngày thương cỏ nội hoa hèn,Chút thân bèo bọt dám phiền mai sauNửa năm hương lửa đương nồng,Trượng phu thoắt đã động lòng bốn vời trời bể mênh mang,Thanh gươm yên ngựa, lên đường thẳng rằng “Tâm phúc tương tri,Sao chưa thoát khỏi nữ nhi thường tình? Bao giờ mười vạn tinh binh,Tiếng chiêng dậy đất bóng tinh rợp cho rõ mặt phi thường,Bấy giờ ta sẽ rước nàng nghi nay bốn bể không nhà,Theo càng thêm bận biết là đi đâu?Đành lòng chờ đó ít lâu,Chầy chăng là một năm sau vội gì!”Quyết lời dứt áo ra đi,Gió mây bằng đã đến kì dặm khơi.Theo Truyện Kiều – Nguyễn Du ⚡ Gửi Tặng Bạn Thơ Lớp 1 Hay, Bé Vào Lớp 1 ❤️ 1001 Bài Thơ Phổ Biến Nhất Bài Tỏ Lòng Ngữ Văn 10 Bài Tỏ Lòng Ngữ Văn 10 mang vẻ đẹp hào khí Đông A, thể hiện qua vẻ đẹp của con người và quân đội nhà Trần. Đồng thời, qua đó thể hiện tâm sự và lí tưởng sống cao đẹp của tác giả. Phiên âm Hoành sóc giang sơn cáp kỷ thu,Tam quân tỳ hổ khí thôn nhi vị liễu công danh trái,Tu thính nhân gian thuyết Vũ hầu.Theo Phạm Ngũ Lão Dịch Nghĩa Cầm ngang ngọn giáo gìn giữ non sông đã mấy thu,Ba quân như hổ báo, khí thế hùng dũng nuốt trôi trâuThân nam nhi nếu chưa trả xong nợ công danh,Ắt thẹn thùng khi nghe người đời kể chuyện Vũ hầu. Dịch Thơ Múa giáo non sông trải mấy thu,Ba quân khí mạnh nuốt trôi danh nam tử con vương nợ,Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ hầu. 🍁 Ngoài Bài Tỏ Lòng Ngữ Văn 10, Tiết Lộ Thêm Thơ Lớp 6 Hay Nhất ❤️ Trọn Bộ Những Bài Thơ Lớp Sáu Thơ Trung Đại Lớp 10 Tiếp theo đây, xin tổng hợp đến bạn đọc tổng hợp những bài Thơ Trung Đại Lớp 10 gồm văn học chữ Hán và văn học chữ Nôm. Bạn cùng khám phá ngay nhé. Bình Ngô đại cáo Nguyễn Trãi.Bảo kính cảnh giới Nguyễn TrãiTruyện Kiều Nguyễn DuĐộc Tiểu Thanh Kí Nguyễn DuChinh Phụ Ngâm Đặng Trần CônNhàn Nguyễn Bỉnh KhiêmThuật Hoài Phạm Ngũ LãoBạch Đằng Giang phú Trương Hán Siêu 🍁 Bên Cạnh Thơ Trung Đại Lớp 10. Tặng Bạn Thơ Cho Bé 1 Tuổi Hay Nhất ️❤️️ Top Các Bài Thơ Cho Trẻ Thơ Đường Lớp 10 Thơ Đường Lớp 10 gồm Thơ Đường luật và Thơ Nôm Đường luật. Đề tài phong phú, quen thuộc về thiên nhiên, chiến tranh, tình bạn, tình yêu, người phụ nữ, tư tưởng trung quân ái quốc Thơ Đường luật thơ chữ Hán, xuất hiện từ thời nhà Đường, niêm luật chặt Nôm Đường luật vận dụng thơ Đường luật nhưng sáng tác bằng chữ Nôm. Một số tác phẩm thơ đường trong chương trình ngữ văn lớp 10 Thơ Đường luật chữ Hán Thuật hoài – Phạm Ngũ Lão. Thơ Nôm Đường luật Nhàn – Nguyễn Bỉnh Khiêm.Thơ Nôm Đường luật sáng tạo thất ngôn xen lục ngôn Cảnh ngày hè – Nguyễn Trãi. 💌 Ngoài Thơ Đường Lớp 10. Đừng Bỏ Lỡ Thơ Thiếu Nhi Hay ❤️️ Bài Thơ Nhà Trẻ Ngắn Và Dễ Thuộc Thơ Song Thất Lục Bát Lớp 10 Phần cuối cùng, xin chia sẻ đến bạn một số kiến thức về Thơ Song Thất Lục Bát Lớp 10 và những bài thơ song thất lục bát. Thơ song thất lục bát là một trong hai thể thơ truyền thống của dân tộc Việt Nam. Thơ song thất lục bát gồm những đoạn ngắn bốn câu cấu thành. Một bài thơ song thất lục bát ngắn nhất là 4 câu, và dài nhất là không giới hạnThơ song thất lục bát gồm có 2 câu 7 chữ và 1 câu 6 chữ, 1 câu 8 cuối câu thất trên vần với chữ thứ 5 câu thất dưới. Chữ cuối câu thất dưới vần với chữ cuối câu lục, tiếng cuối câu lục vần với chữ thứ 6 câu bát. Và chữ cuối câu bát vần với chữ thứ 5 đôi khi chữ thứ 3 của câu thất tiếp theo. Vợ Chồng Quê – Phan Hạnh Nè em, chuyến nầy thăm Ba Má Thấy em mừng như lá uống sương Như me chấm với nước đường Như con cá lóc dưới mương ăn mồi. Đố em trái me kia mấy mắt? Chùm me kia xanh ngắt chờ ai? Răng em mà cắn me nầy, Cả Ba với Má không rầy cũng la. Con đường nầy em qua mấy bận? Cây mắc cở còn giận em không? Guốc vông mang đẹp gót hồng, Cũng vì cưng vợ nên chồng đạp gai. Bên bờ mương có cây trái mắm Chim chìa vôi ngộ lắm em ơi Thòi lòi nhảy lội loi choiPhùng mang hát bội em coi mắc cười. Rau càng cua không chua không ngọt Cá bãi trầu phun bọt dưới mương Thấy em con nít, anh thươngBên chồng quấn quít như tương với cà. Giây tóc tiên quấn giàn bông giấy Đọt xoài non em lấy nấu canh Tép bò, cá trắng xào hành Khoai lang bí đỏ vài khoanh nấu dừa. Mấy bữa trước trời mưa mây tía Cá trê lên luống mía ăn trùngNước lên lấp xấp vồng gừng Em đi cầu ván ngập ngừng quíu chân. Nắng tròm trèm ếch thèm bông mướp Bầy lòng tong tươm tướp sát bờ Cắm câu, quăng vó, đặt lờ Anh lo công chuyện, em chờ dọn cơm. Bông sua đũa trắng phau sân trướcSào anh quơ một lượt đầy baoEm ngồi giặt áo bờ ao Vài con bướm nhỏ lao xao khóm lài. Tới Tết này mình đầy năm cưới Em đòi về xóm dưới thăm Ba Má khen em rất mặn mà Ba khen anh tánh thật thà siêng năng. 🔥 Bên Cạnh Thơ Song Thất Lục Bát Lớp 10, Đừng bỏ lỡ tuyển tập Thơ Cho Bé Hay Nhất ❤️️ Dạy Bé Đọc Thơ Mầm Non
tác phẩm lớp 10